BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 2, 2026 – LUẬT ĐẦU TƯ 2025 CÓ HIỆU LỰC TỪ 01/03/2026 VỚI MỘT SỐ THAY ĐỔI QUAN TRỌNG NHÀ ĐẦU TƯ VÀ DOANH NGHIỆP CẦN LƯU Ý

Phát hành Tháng 02/2026

Nguyễn H.Nhật Thi
Luật sư Cố vấn

Trịnh Nguyên Hoàng
Trợ lý Luật sư

TÓM TẮT

2020-2025 là giai đoạn địa chính trị thế giới có nhiều biến động, hoạt động đầu tư, các chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, nhiều nhận định cho rằng dòng vốn đầu tư nói chung, đặc biệt là vốn FDI thế hệ mới không còn đặt nặng lợi thế chi phí thấp hay ưu đãi ngắn hạn mà đang chuyển dịch ưu tiên tới những môi trường đầu tư ổn định, hạ tầng chính trị – xã hội – môi trường – công nghệ kết nối đồng bộ, khuyến khích các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Trong bối cảnh đó, dù Luật Đầu tư mới được sửa đổi và ban hành năm 2020[1] cũng như qua 03 lần sửa đổi chính thức (2022, 2024, 2025), yêu cầu đặt ra việc ban hành một Luật đầu tư thống nhất, ổn định, thông thoáng, chi phí tuân thủ thấp, khơi dậy tiềm năng, tạo động lực phát triển và thu hút nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài là vô cùng cần thiết và cấp bách.

Cụ thể hóa nội dung của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/1/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, Nghị quyết 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026, Luật Đầu tư 2025[2] đã được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp lý về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Trong đó, một số điểm mới của Luật Đầu tư 2025 mà nhà đầu tư và doanh nghiệp cần lưu ý bao gồm:

  • Phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư nhiều hơn cho địa phương và xác định rõ các dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư;
  • Mở rộng phạm vi áp dụng của thủ tục đầu tư đặc biệt (áp dụng cơ chế “hậu kiểm” thay cho “tiền kiểm”);
  • Bổ sung quy định nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế trước khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
  • Cắt giảm số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện;
  • Loại bỏ 02 trường hợp nhà đầu tư bắt buộc phải xin điều chỉnh chủ trương đầu tư;
  • Cho phép nhà đầu tư linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư;
  • Đơn giản hoá thủ tục đầu tư ra nước ngoài.

1. PHÂN CẤP THẨM QUYỀN CHẤP THUẬN CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ

Trước đây, Luật Đầu tư 2020 được sửa đổi bổ sung quy định các dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo nhóm dự án thuộc thẩm quyền của từng cơ quan (Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, UBND cấp tỉnh). Luật Đầu tư 2025 quy định rõ ràng và dễ áp dụng hơn theo hướng Điều 24 liệt kê 20 trường hợp các dự án thuộc diện phải chấp thuận chủ trương đầu tư; đồng thời, Điều 25 quy định về thẩm quyền chấp thuận cho các cấp chủ thể lần lượt là Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và Ban quản lý khu công nghiệp/khu chế xuất/khu công nghệ cao/khu kinh tế. Theo đó, điểm cần lưu ý là Luật Đầu tư 2025 đẩy mạnh xu thế phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư. Nội dung này được kỳ vọng sẽ rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục đầu tư cho các dự án đầu tư cũng như giảm tải gánh nặng thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư ở cấp Trung ương.

Cụ thể, Quốc hội chỉ còn giữ lại thẩm quyền chấp thuận các “dự án đầu tư có yêu cầu áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt, khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội.” Toàn bộ các dự án còn lại trước đây thuộc thẩm quyền của Quốc hội tại Luật Đầu tư 2020 như dự án đầu tư ảnh hưởng lớn đến môi trường, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp có diện tích lớn hoặc dự án yêu cầu di dân tái định cư nhiều người, nay được phân cấp cho Thủ tướng Chính phủ.

Trong khi đó, Thủ tướng Chính phủ vẫn tiếp tục nắm giữ thẩm quyền chấp thuận đối với 8 nhóm dự án có tầm ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia, tài nguyên thiên nhiên và những lĩnh vực nhạy cảm, ví dụ như dự án đầu tư kinh doanh đặt cược/casino, dự án nhà máy điện hạt nhân…

Đồng thời, cấp UBND tỉnh[3] được trao thẩm quyền rộng hơn so với Luật Đầu tư 2020 với 13 nhóm dự án đầu tư so với 7 nhóm như trước đây. Cụ thể, nhiều nhóm dự án trước đây thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ như dự án đầu tư chế biến dầu khí, cảng hàng không, sân bay, đường cất hạ cánh của cảng hàng không, nhà ga hành khách của cảng hàng không quốc tế, dự án đầu tư mới kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường hàng không… nay đã được đẩy mạnh phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Bên cạnh việc quy định rõ và phân cấp dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư cũng không còn được quy định trong Luật Đầu tư 2025 mà sẽ được Chính phủ quy định chi tiết. Quy định này nhằm tăng tính ổn định của luật và tính linh hoạt trong điều hành chính sách của Chính phủ.

2. MỞ RỘNG PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA THỦ TỤC ĐẦU TƯ ĐẶC BIỆT

Trước đây, cơ chế này đã được áp dụng trong phạm vi hẹp từ ngày 15/1/2025, khi một trong những điểm sửa đổi bổ sung của Luật Đầu tư 2020[4] là nhà đầu tư được phép lựa chọn đầu tư theo thủ tục đầu tư đặc biệt nếu dự án đầu tư được thực hiện tại một số khu vực như các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu chức năng trong khu kinh tế… và giới hạn trong một số lĩnh vực ưu tiên về đổi mới sáng tạo, công nghệ cao như đầu tư trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp mạch tích hợp bán dẫn, vật liệu bán dẫn, đầu tư xây dựng hạ tầng Big Data và iCloud, 5G….

Từ ngày 1/3/2026, Điều 28 của Luật Đầu tư 2025 đã mở rộng phạm vi áp dụng của thủ tục đầu tư đặc biệt này cho các dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế trong tất cả các ngành nghề đầu tư kinh doanh, trừ trường hợp “dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ”.

Thủ tục này cho phép nhà đầu tư bỏ qua toàn bộ quy trình thẩm định “tiền kiểm” kéo dài trong nhiều tháng bao gồm: chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, đánh giá tác động môi trường, lập quy hoạch chi tiết 1/500, xin giấy phép xây dựng và phê duyệt phòng cháy, chữa cháy và Cơ quan có thẩm quyền sẽ có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các dự án theo quy định pháp luật theo cơ chế “hậu kiểm” cũng như theo hướng dẫn của Chính phủ ở cấp Nghị định.

Đây là một điểm mới quan trọng của Luật Đầu tư 2025 từ góc độ quản lý nhà nước và xây dựng chính sách, theo hướng Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh giảm khâu cấp phép đối với các dự án đầu tư tại các khu vực đã có hạ tầng phát triển đồng bộ và sẽ tập trung vào cơ chế báo cáo, đánh giá, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư.

Đồng thời, với sự thành lập của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (Vietnam International Financial Centre – IFC), thủ tục đầu tư đặc biệt cũng sẽ được ghi nhận áp dụng đối với thiết chế này, đồng bộ với chủ trương của Chính phủ Việt Nam xây dựng đây là điểm đến đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư.

3. CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ TRƯỚC KHI XIN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ

Luật Đầu tư 2025[5] lần đầu tiên ghi nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế và xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“ERC”) trước khi xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“IRC”) nhưng vẫn phải đáp ứng các điều kiện về tiếp cận thị trường.

Thay đổi này có mục đích xử lý điểm nghẽn kéo dài nhiều năm đối với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài: để chuẩn bị hồ sơ xin cấp IRC, nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành ký hợp đồng thuê trụ sở, tuyển dụng nhân sự chủ chốt, mở tài khoản ngân hàng hay bảo lãnh lao động nước ngoài trong giai đoạn chuẩn bị dự án trong tình trạng “không có tư cách pháp nhân”. Việc được cấp ERC trước khi làm thủ tục xin cấp IRC sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài rút ngắn thời gian gia nhập thị trường, giảm chi phí trung gian và tăng tính chủ động, minh bạch, thông thoáng trong tổ chức, đàm phán và triển khai hoạt động đầu tư.

Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này sẽ còn cần chờ văn bản hướng dẫn ở cấp Nghị định, đặc biệt là cần có giải pháp xử lý phù hợp với những trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đã xin được cấp ERC nhưng không xin được IRC.

4. CẮT GIẢM DANH MỤC NGÀNH NGHỀ CÓ ĐIỀU KIỆN

Luật Đầu tư 2025 đã tiếp tục cụ thể hoá chính sách chung về cắt giảm danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện từ 227 ngành xuống còn 198 ngành.

Cụ thể, các ngành nghề như kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, dịch vụ làm thủ tục hải quan, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, hay cho thuê lại lao động, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ trung tâm dữ liệu đã chính thức được đưa ra khỏi danh mục.

Đồng thời, một số các ngành nghề kinh doanh phản ánh nhu cầu phát triển trong thời đại mới như dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon trong nước (cùng với sự ra đời của Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước) hay cung ứng dịch vụ tiền di động (mobile money) đã được bổ sung vào danh sách.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng được giao nhiệm vụ phân loại 198 ngành nghề nói trên và công bố 02 danh mục riêng biệt, bao gồm:[6]

  • Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cần thiết phải cấp phép, chứng nhận trước khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh và;
  • Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải chuyển phương thức quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh để quản lý phương thức hậu kiểm.

Việc công bố danh mục nói trên giúp nhà đầu tư nắm được rõ ngành nghề nào là ngành nghề phải đáp ứng điều kiện/ có “giấy phép con” thì mới được tiến hành hoạt động kinh doanh, và ngành nghề nào mặc dù có điều kiện nhưng có thể tiến hành hoạt động ngay theo phương thức công bố và kiểm soát hậu kiểm.

Lưu ý: Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025 sẽ chỉ có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

5. THU HẸP CÁC TRƯỜNG HỢP ĐIỀU CHỈNH DỰ ÁN

Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, trong một số trường hợp nhà đầu tư điều chỉnh nội dung dự án đầu tư thì cần thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư, cũng như điều chỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, thủ tục này có thể kéo dài, gây gián đoạn hoạt động đầu tư, thậm chí khiến nhà đầu tư lỡ cơ hội kinh doanh hoặc chậm trễ trong áp dụng các công nghệ mới đối với dự án đầu tư, đặc biệt là trong một số tình huống mà việc thay đổi không cần sự can thiệp quản lý của Cơ quan nhà nước.

Điều 33 Luật Đầu tư 2025 đã tháo gỡ vướng mắc này khi bãi bỏ 02 trường hợp bắt buộc phải điều chỉnh chủ trương đầu tư khi điều chỉnh dự án đầu tư, bao gồm:

  • Thay đổi tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư; và
  • Thay đổi công nghệ đã được thẩm định, lấy ý kiến trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư.

Như vậy, sau khi tinh giản, Điều 33 Luật Đầu tư 2025 chỉ còn giữ lại 05 trường hợp bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư. Bao gồm:

  • Thay đổi, bổ sung nội dung, mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư;
  • Thay đổi quy mô diện tích đất sử dụng theo quy định của Chính phủ (trước đây là trên 10% hoặc trên 30ha), thay đổi địa điểm đầu tư;
  • Kéo dài tiến độ thực hiện dự án trong trường hợp điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng theo quy định tại Điều 33.4 của Luật Đầu tư 2025;
  • Điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư; và
  • Thay đổi nhà đầu tư của dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trước khi dự án khai thác, vận hành hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có).

Lưu ý: Mặc dù không cần phải làm thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 2 trường hợp mới bị loại bỏ, nhưng nếu sự thay đổi này làm phát sinh yêu cầu sửa đổi nội dung chính của dự án quy định tại IRC, nhà đầu tư vẫn cần thực hiện thủ tục điều chỉnh IRC để ghi nhận sự thay đổi.

6. LINH HOẠT THỜI HẠN HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Khác với Luật Đầu tư 2020, Luật Đầu tư 2025 cho phép nhà đầu tư chủ động hơn trong việc kiểm soát thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.

Cụ thể, quy định hiện hành của Luật Đầu tư 2020 dẫn tới cách hiểu nhà đầu tư chỉ được tăng thời hạn hoạt động của dự án đầu tư dưới hình thức gia hạn thời hạn hoạt động của dự án khi dự án hết thời hạn hoạt động mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án đầu tư.

Trong khi đó, Luật đầu tư 2025 bên cạnh việc kế thừa quy định nói trên để đảm bảo nhà đầu tư vẫn có quyền xin gia hạn thời hạn hoạt động của dự án khi hết thời hạn, đồng thời còn mở rộng quyền hơn khi cho phép nhà đầu tư “trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư được điều chỉnh tăng hoặc giảm thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.”[7]

Quy định này sẽ tạo cơ chế giúp nhà đầu tư có được sự chắc chắn hơn trong việc dự liệu và quản lý thời hạn thực hiện dự án đầu tư. Theo đó, trong quá trình thực hiện dự án, nhà đầu tư có thể chủ động đề nghị tăng thời hạn hoạt động của dự án so với thời hạn đã được chấp thuận trước đó, thay vì việc phải chờ tới khi kết thúc thời hạn thực hiện dự án mới được thực hiện thủ tục xin phép gia hạn.

Không những vậy, đối với các giao dịch chuyển nhượng dự án, Luật Đầu tư 2025 còn mở ra khả năng xem xét, quyết định tăng thời hạn hoạt động của dự án trên cơ sở nhà đầu tư nhận chuyển nhượng đề xuất trong trường hợp thời hạn hoạt động còn lại của dự án không đáp ứng được phương án tài chính hoặc phương án đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng.[8] Việc đề xuất này được thực hiện cùng với thủ tục chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc cấp, điều chỉnh IRC trong quá trình chuyển nhượng dự án.

7. ĐƠN GIẢN HOÁ THỦ TỤC ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Luật Đầu tư 2025 đã bãi bỏ hoàn toàn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, nhà đầu tư chỉ phải thực hiện thủ tục xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong hai trường hợp: (i) dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ hoặc (ii) dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo Điều 41.1 (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, kinh doanh bất động sản). Đối với dự án quy mô lớn hoặc đề xuất cơ chế, chính sách đặc biệt, Bộ Tài chính phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét trước khi cấp hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Các dự án không thuộc các trường hợp trên không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, mà chỉ cần đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định pháp luật liên quan.

8. MỘT SỐ NỘI DUNG QUAN TRỌNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP MÀ NHÀ ĐẦU TƯ CẦN QUAN TÂM

Theo Điều 52 của Luật Đầu tư 2025, kể từ ngày 1/3/2026 trở đi, một số nội dung điều khoản chuyển tiếp đã được thông qua bao gồm:

Thứ nhất, bảo toàn hiệu lực pháp lý của giấy phép đã cấp.

Toàn bộ Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, IRC, quyết định chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư được cấp trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực tiếp tục có giá trị thi hành theo nội dung đã phê duyệt.

Thứ hai, bảo lưu điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn so với quy định tại Điều 8 Luật Đầu tư 2025 được tiếp tục hưởng điều kiện theo IRC đã cấp, bảo đảm tính ổn định của môi trường đầu tư và tuân thủ các hiệp định đầu tư quốc tế.

Thứ ba, tiếp tục xử lý hồ sơ đang giải quyết theo luật cũ.

Hồ sơ hợp lệ đã tiếp nhận theo quy định của Luật Đầu tư 2020 trước 1/3/2026 thì tiếp tục áp dụng theo quy định của Luật Đầu tư 2020, trừ 02 trường sau đây:

  • Trường hợp dự án đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực thi hành chưa đáp ứng yêu cầu, điều kiện để chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020, Bộ Tài chính chuyển hồ sơ dự án, ý kiến thẩm định và báo cáo thẩm định cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý theo thẩm quyền quy định tại Luật này;
  • Trường hợp dự án chưa được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực thi hành, Bộ Tài chính chuyển hồ sơ dự án và ý kiến thẩm định dự án (nếu có) cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý theo thẩm quyền quy định tại Luật này;

Thứ tư, giấy phép con của các ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã bị bãi bỏ tiếp tục có hiệu lực.

Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư năm 2020 nhưng đã bị bãi bỏ theo quy định của Luật Đầu tư 2025, tổ chức, cá nhân được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc hình thức văn bản cho phép đầu tư, kinh doanh khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp đến hết thời hạn của văn bản, giấy tờ đó.

KẾT LUẬN:

Có thể thấy, Luật Đầu tư 2025 đã có những thay đổi lớn, triệt để từ góc độ cách tiếp cận và tư duy lập pháp theo hướng tiến bộ, đổi mới, hiện đại, phân cấp từ Trung ương xuống địa phương, từ “tiền kiển” tới “hậu kiểm”, từ quy định chi tiết tới chỉ quy định khuôn khổ pháp lý chính… Những sự đổi mới này nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư, tháo gỡ các “điểm nghẽn” do quy định pháp luật, tiến tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, toàn cầu.

Nhà đầu tư và doanh nghiệp cần lưu ý nắm vững những nội dung thay đổi của Luật Đầu tư 2025 đồng thời theo dõi và cập nhật thường xuyên các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan đến nội dung của Luật Đầu tư 2025 để vận dụng được những sự thay đổi này một cách tối đa và hiệu quả.

[1] Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 17/6/2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 (“Luật Đầu tư 2020”).

[2] Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 do Quốc hội ban hành ngày 11/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 (“Luật Đầu tư 2025”).

[3] Luật Đầu tư 2025 thay đổi chủ thể chấp thuận chủ trương đầu tư ở cấp tỉnh từ UBND tỉnh sang Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

[4] Luật số 57/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2025.

[5] Điều 19.2 của Luật Đầu tư 2025.

[6] Điều 7.1 của Luật Đầu tư 2025.

[7] Điều 31.4 Luật Đầu tư 2025.

[8] Điều 52.6 của Luật Đầu tư 2025.

Download pdf version