BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 03, 2022 – Nghị định số 02/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh Doanh Bất Động Sản

Phát hành 03/2022 

Nguyễn Thu Huyền
Luật sư thành viên

Nguyễn Hoàng Quân
Trợ lý Pháp lý

Trong những năm gần đây, ngành nghề kinh doanh bất động sản luôn nằm trong danh sách các ngành có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao nhất tại Việt Nam. Theo thống kê của Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report thực hiện cho giai đoạn 2017 – 2021[1], nhóm 7 ngành đạt tốc độ tăng trưởng kép (“CAGR[2]”) cao nhất và có đóng góp lớn cho sự tăng trưởng chung là: Ngành Thép (34,5%); Ngành Bán lẻ (17,5%); Ngành Tài chính (17,3%); Ngành Nông nghiệp (16,0%); Ngành Thực phẩm – Đồ uống (11,9%); Ngành Hóa chất (11,7%) và Ngành Bất động sản – Xây dựng (10,8%). Không những tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao, ngành kinh doanh bất động sản còn xuất hiện nhiều loại hình mới như officetel, condotel, resort villa hay shophouse cần có hành lang pháp lý để điều chỉnh.

Trước sự phát triển nhanh chóng của thị trường, ngày 06 tháng 01 năm 2022, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh Doanh Bất Động Sản năm 2014 (“Nghị định 02”) để đáp ứng các yêu cầu mới về quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Nghị định 02 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 03 năm 2022 và thay thế Nghị định số 76/2015/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản (“Nghị định 76”).[3] Dưới đây là các điểm mới đáng chú ý của Nghị định 02 này:

1. Doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải công khai thông tin

Nghị định 02 quy định trách nhiệm công khai thông tin là một trong những điều kiện bắt buộc để tổ chức cá nhân được kinh doanh bất động sản, theo đó doanh nghiệp bất động sản, Ban Quản lý dự án bất động sản và sàn giao dịch bất động sản phải công khai thông tin trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, trụ sở Ban Quản lý dự án, và sàn giao dịch. Các thông tin cần công khai bao gồm: (i) thông tin về doanh nghiệp; (ii) thông tin về bất động sản đưa vào kinh doanh,; (iii) thông tin về thế chấp nhà, công trình xây dựng, dự án bất động sản đưa vào kinh doanh; (iv) thông tin về số lượng, loại sản phẩm bất động sản được kinh doanh, đã bán, chuyển nhượng hoặc cho thuê mua, và còn lại đang tiếp tục kinh doanh.[4]

Quy định nêu trên là quy định mới so với Nghị định 76, cụ thể hóa các quy định tại Điều 6 của Luật Kinh doanh bất động sản 2014 về việc công khai thông tin về bất động sản đưa vào kinh doanh.  Quy định này nhằm minh bạch hóa thông tin trong hoạt động kinh doanh bất động sản và nếu được triển khai một cách hiệu quả trong thực tế sẽ giúp cho người dân có một kênh thông tin để tham khảo khi có nhu cầu mua bất động sản.

2. Quy định về vốn pháp định và vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư:

Nghị định 76 quy định về điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng.[5] Quy định này được bãi bỏ theo Luật đầu tư năm 2020 và theo đó tiếp tục được bãi bỏ tại Nghị định 02.

Ngoài ra, Nghị định 02 bổ sung quy định về mức vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư dự án bất động sản căn cứ theo quy mô sử dụng đất thống nhất với các quy định về điều kiện đối với người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư của Nghị định 43/2014/NĐ-CP[6] (không thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án sử dụng đất dưới 20 ha, không thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư đối với dự án sử dụng đất từ 20 ha trở lên) cũng như cách thức xác định mức vốn chủ sở hữu này. Việc xác định vốn chủ sở hữu quy định tại khoản này được căn cứ vào kết quả báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất hoặc kết quả báo cáo kiểm toán độc lập của doanh nghiệp đang hoạt động (được thực hiện trong năm hoặc năm trước liền kề); trường hợp là doanh nghiệp mới thành lập thì xác định vốn chủ sở hữu theo vốn điều lệ thực tế đã góp theo quy định của pháp luật.[7]Với các quy định này, Nghị định 02 đã làm rõ điều kiện về năng lực tài chính của nhà đầu tư dự án bất động sản thay vì không được đề cập tại Nghị định 76, đảm bảo sự đồng bộ giữa pháp luật kinh doanh bất động sản và pháp luật đất đai cũng như những quy định mới của Luật Đầu tư 2020.

3. Áp dụng mẫu hợp đồng chung khi kinh doanh bất động sản:

Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 02 là việc áp dụng hợp đồng mẫu trong các giao dịch bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua, cho thuê lại bất động sản và chuyển nhượng dự án bất động sản, trong đó có cả mẫu hợp đồng mua bán/thuê mua căn hộ du lịch, căn hộ văn phòng kết hợp lưu trú.

Việc Nghị định 02 ban hành mẫu Hợp đồng mua bán/thuê mua căn hộ du lịch, căn hộ văn phòng kết hợp lưu trú để thống nhất áp dụng, trong đó quy định rất rõ ràng và chi tiết các quy định liên quan tới như định nghĩa đối với “Căn hộ du lịch/Căn hộ văn phòng kết hợp lưu trú”, “Phần sở hữu chung”, “Phần sở hữu riêng”, “Kinh phí bảo trì”, “Bảo hành”, “Đặc điểm của căn hộ du lịch/căn hộ văn phòng kết hợp lưu trú được mua bán/thuê mua”, “Quyền và nghĩa vụ của các bên”… là một bước tiến quan trọng về tính pháp lý đối với các sản phẩm bất động sản này.

Ngoài ra, một điểm cần lưu ý là các mẫu hợp đồng được quy định trong Nghị định 02 mang tính bắt buộc, không còn mang tính chất tham khảo trong quá trình ký kết hợp đồng như quy định cũ tại Nghị định 76.[8]

Đối với các giao dịch chuyển nhượng bất động sản đã được ký kết trước ngày Nghị định 02 có hiệu lực, các bên không cần ký lại Hợp đồng theo quy định của Nghị định 02. Tuy nhiên, đối với các trường hợp các bên đang làm thủ tục ký kết hợp đồng mua bán, thuê mua nhà, công trình xây dựng nhưng đến ngày Nghị định 02 có hiệu lực thi hành, các bên chưa ký kết hợp đồng thì phải thực hiện ký kết hợp đồng theo quy định tại Nghị định 02.[9]

4. Điều kiện mới khi mua bán dự án nhà ở hình thành trong tương lai và nhà, công trình xây dựng có sẵn.

Nghị định 02 đã quy định chi tiết về điều kiện để chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai[10], bên cạnh quy định về điều kiện chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà có sẵn tại Nghị định 76. Việc chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà, công trình xây dựng phải đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) có hợp đồng được lập theo quy định của Điều 6 Nghị định 02; (ii) thuộc diện chưa nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận; (iii) hợp đồng không thuộc diện tranh chấp; và (iv) nhà, công trình thuộc hợp đồng không thuộc diện bị kê biên, thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ, trừ trường hợp được bên nhận thế chấp đồng ý.

Nghị định 02 còn quy định chi tiết trình tự, thủ tục chuyển nhượng hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai và chuyển nhượng hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng có sẵn.

5. Quy định mới trong chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản.

Nghị định 02 quy định rõ về nguyên tắc chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án bất động sản. Theo đó, việc chuyển nhượng dự án bất động sản chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện và được áp dụng trong trường hợp dự án đang triển khai thực hiện theo tiến độ, nội dung dự án đã phê duyệt. Đây là điều kiện mới và yêu cầu cao hơn đối với dự án bất động sản dự kiến chuyển nhượng, so với quy định “Đối với trường hợp chuyển nhượng toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thì phải xây dựng xong các công trình hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ ghi trong dự án đã được phê duyệt[11] của Luật Kinh doanh bất động sản, buộc nhà đầu tư cần nghiêm túc tuân thủ tiến độ, nội dung dự án đã phê duyệt.

Đối với các dự án bất động sản được chấp thuận nhà đầu tư và dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu Tư năm 2020, khi thực hiện chuyển nhượng, pháp luật về đầu tư sẽ được áp dụng.[12] Các dự án không thuộc các trường hợp nêu trên sẽ thực hiện chuyển nhượng theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản và Nghị định 02.

Nghị định 02 được ban hành gồm 16 điều cùng với các mẫu Hợp đồng, nhằm thay thế Nghị định 76, tạo lang pháp lý rõ ràng hơn cho thị trường bất động sản trong thời gian sắp tới.

[1] https://vietnamreport.net.vn/Top-500-Doanh-nghiep-loi-nhuan-tot-nhat-Viet-Nam-nam-2021-9998-1006.html

[2] Compound Annual Growth Rate: Tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm

[3] Điều 16.2 Nghị định số 02/2022/NĐ-CP

[4] Điều 4.1 (b) Nghị định số 02/2022/NĐ-CP

[5] Điều 3.1 Nghị định 76/2015/NĐ-CP

[6] Điều 14.2 (b) Nghị định 43/2014/NĐ-CP

[7] Điều 4.2 Nghị định 02/2022/NĐ-CP

[8] Điều 7.2 (a) Nghị định 02/2022/NĐ-CP

[9] Điều 14.1 và 14.2 Nghị định 02/2022/NĐ-CP

[10] Điều 7 Nghị định 02/2022/NĐ-CP

[11] Điều 49.1 (b) Luật kinh doanh bất động sản năm 2014

[12] Điều 46 Luật Đầu tư năm 2020.

Download pdf version

LEGAL UPDATE – MARCH 2022 – Decree 02/2022/ND-CP dated on January 06, 2022 of Government on elaboration of certain articles of the Law on Real Estate Trading

Issue March 2022

Nguyen Thu Huyen
Partner

Nguyen Hoang Quan
Legal Assistant

In recent years, real estate business in Vietnam has always been on the top list of industries with the highest profit growth. According to the statistics of the PROFIT500 Ranking, conducted by Vietnam Report in the period 2017 – 2021[1], the top 7 industries achieved the highest compound annual rate (“CAGR[2]“) and made great contributions to the overall growth: Steel Industry (34.5%); Retail (17.5%); Finance sector (17.3%); Agriculture (16.0%); Food and Beverage Industry (11.9%); Chemical Industry (11.7%) and Real Estate – Construction Industry (10.8%). Not only the high profit growth rate, the real estate industry also appears many new types such as officetel, condotel, resort villa or shophouse that require a legal corridor to govern.

Facing the rapid development of the market, on January 6th, 2022, the Government issued Decree No. 02/2022/ND-CP on elaboration of certain articles of the Law on Real Estate Trading (“Decree 02”) to meet new requirements on State management in the field of real estate business. This Decree takes effect from March 1st, 2022 and replaces Decree No. 76/2015/ND-CP dated September 10th, 2015 of the Government detailing the implementation of a number of articles of the Law on real estate business (“Decree 76”). There are several notable new points in this Decree 02 as followings:

 1.Real estate businesses must disclose information

Decree 02 stipulates the responsibility for information disclosure as an eligibility criterion for organizations and individuals to conduct real estate trading, whereby real estate businesses, real estate project management Boards, and real estate trading floors must publicize information on enterprises’ websites, the headquarters of the Project Management Board, and the trading floor. The required information to be disclosed consist of (i) business information; (ii) information onn real estate put into business; (iii) information on mortgage of houses, construction works, real estate projects put into business; and (iv) information on the quantity and type of real estate products being traded, sold, transferred or leased out, and the rest are continuing to do business.[3]

The above regulation is a new regulation compared to Decree 76, concretizing the provisions in Article 6 of the Law on Real Estate Business 2014 on publicizing information about real estate put into business. This regulation aims to make information transparent in real estate business and, if it is implemented effectively, it will creates reference information channel for those in need of real estate transaction.

2. Regulations on legal capital and equity of investors:

Decree 76 stipulates the conditions for organizations and individuals doing real estate business to have a legal capital of not less than 20 billion VND. [4] This provision is annulled under the Investment Law 2020 and accordingly abolished in Decree 02.

In addition, Decree 02 supplements regulations on the owner’s equity of real estate project investors based on land use scale, consistent with regulations on owners of real estate project investors under the Decree 43/2014/ND-CP (not less than 20% of the total investment capital for projects using less than 20 hectares of land, not less than 15% of the total investment capital for projects with less than 20 hectares of land or more) as well as the method of determining this level of equity. The determination of equity specified in this Clause is based on the results of the most recent audited financial statements or the results of independent audit reports of the operating enterprise (made in the year or immediately preceding year); In the case of a newly established enterprise, the equity capital shall be determined according to the actual contributed charter capital as prescribed by law.[5]

Decree 02 clarifies conditions on financial capacity of real estate project investors which was not provided under Decree 76, ensuring synchronization between the law on real estate business and land law as well as new provisions of the Investment Law 2020.

3. Applying the general contract form in real estate business

One of the new points of Decree 02 is the application of model contracts in transactions of sale, transfer, lease, lease-purchase, sub-lease of real estate and transfer of real estate projects, including: Sample contract for sale/lease-purchase of tourist apartments, office apartments combined with accommodation, etc.

Decree 02 promulgates the form of a contract of sale/lease-purchase of tourist apartments, office apartments combined with accommodation for uniform application, which stipulates clearly and in detail the provisions related to such as: definition for “Tourist apartment/office apartment combined with accommodation”, “Shared ownership”, “Private ownership”, “Maintenance expenses”, “Warranty”, “Features of Tourist apartments/office apartments combined with accommodation are bought, sold/lease-purchased, “Rights and obligations of the parties”…This is an important step forward in terms of legality for these new real estate products.

In addition, it is worth noting that the forms of contracts specified in Decree 02 are mandatory and not only for reference in the process of signing contracts as the previous regulations in Decree 76.[6]

For real estate transfer transactions that have been signed before the effective date of the Decree 02, the parties do not need to re-sign the Contract according to the provisions of Decree 02. However, for cases where the parties are carrying out procedures for signing contracts for purchase and sale, lease-purchase of houses and construction works but the parties have not yet signed contracts by the effective date of this Decree, they must sign contracts according to regulations of Decree 02.[7]

4.  New points in buying and selling housing projects to be formed in the future and existing houses and constructions.

Decree 02 has detailed regulations on conditions for the transfer of contracts for sale and purchase of houses to be formed in the future[8], in addition to regulations on conditions for transfer of lease-purchase contracts available in Decree 76. The transfer of a contract for purchase, sale, or lease purchase of a house or construction work must satisfy the following conditions: (i) a contract is drawn up according to the provisions of Article 6 of Decree 02; (ii) are in the category of not yet submitting the application for the Certificate to the competent state agency; (iii) the contract is not subject to dispute and (iv) the house and works under the contract are not subject to distraint or mortgage to secure obligations, unless otherwise agreed by the mortgagee.

Decree 02 also stipulates in detail the order and procedures for transferring contracts of purchase, sale and lease-purchase of houses to be formed in the future and existing house and construction lease-purchase contracts.

5. The new regulation of transferring all or part of a real estate project

Decree 02 clearly stipulates the principle of transferring all or part of a real estate project. Accordingly, the transfer of real estate projects can only be done when all conditions are met and the project is being implemented under the approved schedule and contents. This is a new point and stricter requirement for real estate projects to be transferred, compared to the regulation “In case of transfer of the entire infrastructure construction investment project, the construction must be completed corresponding technical infrastructure works according to the approved schedule” [9] of the Law on Real Estate Business, forcing investors to strictly comply with the approved schedule and content of the project.

For real estate projects which investors are approved according to Law on Investment 2020 and projects that are granted with an Investment Registration Certificate in accordance with the provisions of the Law on Investment 2020, when transferring, the law on investment will be applied. Projects not falling into the above cases will be transferred according to the provisions of the Law on Real Estate Business and Decree 02.

Decree 02 includes 16 articles along with contract templates, to replace Decree 76, shall create new legal corridor for the real estate market in the coming years.

[1] https://vietnamreport.net.vn/Top-500-Doanh-nghiep-loi-nhuan-tot-nhat-Viet-Nam-nam-2021-9998-1006.html

[2] Compound Annual Growth Rate

[3] Article 4.1 (b) Decree No. 02/2022/ND-CP

[4] Article 3.1 Decree No. 76/2015/ND-CP

[5] Article 4.2 Decree No. 02/2022/ND-CP

[6] Article 7.2 (a) Decree 02/2022/ND-CP

[7] Article 14.1 and 14.2 Decree No. 02/2022/ND-CP

[8] Article 7 Decree No. 02/2022/ND-CP

[9] Article 49.1 (b) Law on Real Estate Trading on 2014

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 11, 2021 – MIỄN VÀ GIẢM THUẾ ĐỂ HỖ TRỢ CÁC DOANH NGHIỆP ẢNH HƯỞNG BỞI COVID-19

Phát hành 11/2021 

Nguyễn Bích Vân
Thành viên

Nguyễn T. Minh Thư
Luật sư trợ lý

Nằm trong nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch Covid-19, Chính Phủ ban hành Nghị định 92/2021 NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2021 thực hiện Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghị định 92 quy định chi tiết các nội dung có ảnh hưởng tới doanh nghiệp gồm về (i) giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, (ii) giảm thuế giá trị gia tăng, (iii) miễn tiền chậm nộp.

Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

Các doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam, theo Luật Hợp tác xã mà có doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2021 không quá 200 tỷ đồng và doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2021 giảm so với doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2019 được áp dụng giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Riêng với doanh nghiệp mới thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách trong kỳ tính thuế năm 2020 và năm 2021, việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp được áp dụng miễn là đáp ứng điều kiện có doanh thu trong kỳ tính thuế năm 2021 không quá 200 tỷ đồng.

Mức giảm thuế là 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2021. Số tiền thuế được giảm được tính trên toàn bộ thu nhập của doanh nghiệp, bao gồm cả thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (trừ nhà ở xã hội); thu nhập từ chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư; và các thu nhập khác được loại trừ khi áp dụng ưu đãi thuế theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Không áp dụng giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối các khoản giảm trừ doanh thu, doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác. Số thuế được giảm theo Nghị định 92 không bao gồm số thuế mà doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi theo quy định hiện hành.

Ngoài ra, Nghị định 92 cũng hướng dẫn cách xác định doanh thu đối với doanh nghiệp có thời gian hoạt động chưa đủ 12 tháng và cách thức kê khai giảm thuế.

Giảm thuế giá trị gia tăng

Doanh nghiệp, tổ chức được giảm 30% thuế giá trị gia tăng hoặc 30% mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng tùy thuộc vào phương pháp tính thuế. Thời gian giảm thuế giá trị gia tăng kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021.

Tuy nhiên, việc giảm thuế giá trị gia tăng chỉ áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19: (i) Dịch vụ vận tải (vận tải đường sắt, vận tải đường thủy, vận tải hàng không, vận tải đường bộ khác); dịch vụ lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch; (ii) Sản phẩm và dịch vụ xuất bản; dịch vụ điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; tác phẩm nghệ thuật và dịch vụ sáng tác, nghệ thuật, giải trí; dịch vụ của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; dịch vụ thể thao, vui chơi và giải trí. Hàng hóa, dịch vụ trong nhóm (ii) không bao gồm phần mềm xuất bản và các hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh theo hình thức trực tuyến.

Ngoài lưu ý về cách thức ghi khi lập hóa đơn giá trị gia tăng, xử lý các hóa đơn đã lập mà chưa ghi chú về việc giảm thuế, doanh nghiệp, tổ chức cần thực hiện kê khai các hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế giá trị gia tăng theo “Phụ lục giảm thuế giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15” tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này cùng với Tờ khai thuế giá trị gia tăng.

Miễn tiền chậm nộp

Doanh nghiệp, tổ chức phát sinh lỗ trong kỳ tính thuế năm 2020 được miễn tiền chậm nộp phát sinh trong năm 2020 và năm 2021 của các khoản nợ tiền thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Trường hợp số tiền thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp tăng lên do doanh nghiệp tự bổ sung hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp cũng không phải nộp tiền chậm nộp phát sinh trong năm 2020, năm 2021 đối với số tiền phải nộp tăng thêm đó nếu đáp ứng điều kiện về lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế năm 2020. Tuy nhiên, không áp dụng với trường hợp doanh nghiệp đã nộp tiền chậm nộp trước thời điểm có hiệu lực của Nghị định này.

Để được miễn tiền chậm nộp, doanh nghiệp cần lập văn bản đề nghị miễn tiền chậm nộp làm căn cứ cho cơ quan thuế quản lý khoản thuế, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác định điều kiện lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế năm 2020 và xem xét miễn tiền chậm nộp. Thời hạn xem xét của cơ quan thuế là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị miễn tiền chậm nộp.

Cần lưu ý, trường hợp cơ quan thuế xác định sai quyền được miễn tiền chậm nộp, cơ quan thuế có thể thu hồi quyết định miễn tiền chậm nộp và doanh nghiệp phải tiến hành nộp theo quy định pháp luật.

Nghị định 92 có hiệu lực kể từ ngày 19 tháng 10 năm 2021.

Download pdf version

LEGAL UPDATE – NOVEMBER 2021 – Tax exemption and reduction to assist enterprises affected by Covid-19

Issue November 2021

Nguyen Bich Van
Partner

Nguyen T. Minh Thu
Assisting Lawyer

Supportive measures to assist enterprises and people who are affected by COVID-19, the Government enacted Decree No. 92/2021/ND-CP dated 27 October 2021 to elaborate of Resolution No. 406/NQ-UBTVQH15 of National Standing Committee. Decree No.92 has detailed guidance on the contents which impact on operation of enterprises, including (i) Corporate income tax (CIT) reduction, (ii) VAT reduction, (iii) Exemption of delayed payment.

CIT reduction

Enterprises established in accordance with Vietnam’s law, Organizations that are established in accordance with the Law on Cooperatives whose revenue in the tax period of 2021 does not exceed 200 billion VND and is smaller than the revenue earned in the tax period of 2019 are subject to enjoy CIT reduction. For enterprises who are newly established, consolidated, merged or acquired for the tax period of 2020 and 2021, the reduction shall be applicable provided that the condition on revenue in the tax period of 2021 does not exceed 200 billion VND.

The reduction rate is 30% of payable amount of CIT in 2021. CIT deductible amount is counted for enterprise’s entire revenue, including incomes from capital assignment or transfer the right of capital contribution; incomes from real estate transfer (exclusive social housing); incomes from transfer of investment projects, transfer the right to invest in projects, and other incomes which are excluded when applying tax incentives under the Law on Corporate Income Tax. CIT deduction is not applicable to deducted revenue, revenues from financial activities and other incomes. The reduced CIT under Decree 92 does not include the CIT which is eligible for incentives according to prevailing regulations.

The Decree 92 also provide guidance to determine revenue for enterprises with less than 12 months of operation and declaration of tax reduction.

VAT reduction

Enterprises, organizations shall be reduced 30% of VAT’s rate or 30% of the rate for calculating VAT depending on applicable tax calculation method. The period of VAT reduction is from 01 November 2021 to 31 December 2021.

Deduction of VAT is applicable to goods, services which are heavily impacted by Covid-19, including: (i) transportation services (railway, waterway, air, and other road transport); accommodation services; food and beverage services; travel and tourism agencies, travel and tourism related or supportive services; (ii) Publishing products and services; cinematography services, TV show production, music recording and publishing; artworks, composing, art, recreation services; services of library, archives, museum, cultural activities; sport and entertainment services. The goods and services mentioned in item (ii) do not include software and online sales of goods and services.

Out of noting on how to make VAT invoice, handling issued invoices which have not been noted on tax reduction, enterprises and organizations need to declare the goods and services to be reduced VAT in the “Appendix on reduction of VAT under Resolution No. 406/NQ-UBTVQH15″ in Appendix II issued attached to this Decree together with the VAT Declaration Note.

Exemption of late payment

Enterprises, organizations which incur losses in the tax period of 2020 shall be exempted late payment amount incurred in 2020 and 2021 for on outstanding tax payable amount, land use levies and land rental. If the outstanding tax payable, land use levies, land rent are increased by enterprise itself or in accordance with decisions of the State Authorities, enterprises are not subject to pay late payment amount incurred in 2020 and 2021 for such increased amount if the taxpayer incurs a loss in 2020. The exemption, however, is not applied in the cases that late payment amount has been paid before the effective date of this Decree.

To be exempted from late payment, enterprises must submit request for exemption of late payment to responsible tax authority for determination of losses in 2020 and consideration of exemption of late payment. Time limit for consideration is 15 working days from the receipt of the taxpayer’s application form for exemption from late payment.

It should be noted that in case the tax authority wrongly determines the right to be exempted from late payment, the tax authority may revoke the decision on exemption from late payment interest and the enterprises must pay in accordance with the laws.

The Decree 92 takes effect from 19 October 2021.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 10, 2021 – NGHỊ ĐỊNH 85/2021: MỘT SỐ QUY ĐỊNH MỚI VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

Phát hành 10/2021

Hà Thị Hải
Luật sư Thành viên

Phan Thị Minh
Trợ lý Pháp lý

Kể từ khi ban hành Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/05/2013 của Chính phủ về thương mại điện tử (“Nghị định 52”), tốc độ phát triển của thương mại điện tử tại Việt Nam có sự tăng trường mạnh mẽ, doanh thu TMĐT bán lẻ tăng từ 2,2 tỷ USD năm 2013 lên 11,8 tỷ USD năm 2020.[1] Trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin và Internet nói chung và hoạt động TMĐT nói chung, ngày 25/09/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2021/NĐ-CP (“Nghị định 85”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 52 để đáp ứng các yêu cầu mới về quản lý nhà nước trong lĩnh vực TMĐT. Nghị định này bắt đầu có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2022. Dưới đây là các điểm mới đáng chú ý tại Nghị định này:

1. Giới hạn phạm vi điều chỉnh

Nghị định 85 quy định rõ các hoạt động TMĐT đã được quy định tại pháp luật chuyên ngành sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này, cụ thể trong các lĩnh vực sau: dịch vụ tài chính, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, xổ số; mua bán, trao đổi tiền, vàng, ngoại hối và các phương tiện thanh toán khác; dịch vụ đặt cược hoặc trò chơi có thưởng; dịch vụ phân phối, phát hành sản phẩm nội dung thông tin số, dịch vụ phát thanh, truyền hình. Quy định này nhằm tránh sự chồng chéo về phạm vi điều chỉnh giữa Nghị định về TMĐT và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

2. Thu gọn đối tượng phải thực hiện thủ tục thông báo với Bộ Công thương

Trước đây, Nghị định 52 yêu cầu tất cả cá nhân, tổ chức thiết lập website TMĐT bán hàng phải thực hiện thủ tục thông báo với Bộ Công thương. Tuy nhiên quy định này là không cần thiết đối với website đơn giản, không có chức năng đặt hàng trực tuyến, chỉ đơn thuần giới thiệu doanh nghiệp, sản phẩm/dịch vụ đang cung cấp. Do vậy, Nghị định 85 đã sửa đổi quy định này và chỉ yêu cầu phải thông báo việc thiết lập website TMĐT bán hàng nếu website đó có chức năng đặt hàng trực tuyến.

3. Điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ TMĐT

Đây là quy định hoàn toàn mới và quan trọng của Nghị định 85 đối với hoạt động thương mại điện tử có vốn đầu tư nước ngoài, nhất là trong bối cảnh sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong thị trường TMĐT của Việt Nam ngày càng sâu rộng. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư kinh doanh hoạt động cung cấp dịch vụ TMĐT dưới hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần.

Nhà đầu tư nước ngoài chi phối từ 01 doanh nghiệp trở lên thuộc nhóm 05 doanh nghiệp dẫn đầu thị trường dịch vụ thương mại điện tử tại Việt Nam theo danh sách do Bộ Công Thương công bố phải có ý kiến thẩm định về an ninh quốc gia của Bộ Công an khi xin cấp/điều chỉnh Giấy phép kinh doanh. Chi phối được hiểu là nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở lên hoặc có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc của doanh nghiệp hoặc có quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các điều kiện trên không áp dụng đối với nhà đầu tư có hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo.

Nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khi thực hiện thủ tục đăng ký thiết lập website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử với Bộ Công Thương được yêu cầu phải nộp Giấy phép kinh doanh. Đây là giấy phép cấp cho nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khi cung cấp dịch vụ thương mại điện tử theo quy định tại Nghị định 09/2018/NĐ-CP về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

4. Trách nhiệm của thương nhân, tổ chức nước ngoài có website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử tại Việt Nam

Một điểm mới quan trọng đối với các website thương mại điện tử nước ngoài là quy định Thương nhân tổ chức nước ngoài có website thương mại điện tử mà (i) có tên miền Việt Nam; (ii) ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt, hoặc (iii) có trên 100.000 lượt giao dịch từ Việt Nam trong một năm, thì có các trách nhiệm sau đây:

  • Thực hiện đăng ký hoạt động thương mại điện tử theo quy định tại Nghị định này và thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hoặc chỉ định đại diện theo ủy quyền của mình tại Việt Nam
  • Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước trong việc ngăn chặn các giao dịch hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật Việt Nam;
  • Thực hiện các nghĩa vụ về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam;
  • Thực hiện nghĩa vụ báo cáo theo quy định

Như vậy các website thương mại điện tử nước ngoài có một trong các yếu tố nêu trên bắt buộc phải có hiện diện thương mại hoặc đại diện uỷ quyền tại Việt Nam và đăng ký hoạt động với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thay vì chỉ bán hàng hoá cung cấp dịch vụ qua biên giới mà không chịu sự quản lý của Chính phủ Việt Nam.

5. Mạng xã hội có thể được xem là sàn thương mại điện tử

Mạng xã hội có một trong các hình thức hoạt động sau và người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trả phí cho việc thực hiện các hoạt động đó sẽ được coi là sàn thương mại điện tử và phải tuân thủ theo các quy định đối với hoạt động của sàn TMĐT:

  • Cho phép người tham gia được mở các gian hàng để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ;
  • Cho phép người tham gia được mở tài khoản để thực hiện quá trình giao kết hợp đồng với khách hàng;
  • Có chuyên mục mua bán, trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ

Như vậy các mạng xã hội nước ngoài lớn như Facebook, Instagram sẽ chính thức được coi là Sàn giao dịch thương mại điện tử hoạt động tại Việt Nam và có trách nhiệm tuân thủ các quy định về hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định 85.

6. Tăng cường trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp sàn giao dịch TMĐT

Nhằm mục tiêu minh bạch hóa thông tin cho người tiêu dùng, phòng chống gian lận thương mại, Nghị định 85 bổ sung trách nhiệm của của thương nhân, tổ chức cung cấp sàn giao dịch TMĐT như sau:

  • Yêu cầu người bán cung cấp thông tin về tên, địa chỉ, mã số định danh, số điện thoại. Với người bán nước ngoài, các tên riêng được phiên âm tiếng Việt hoặc thể hiện bằng ký tự La tinh.
  • Xác minh danh tính của người bán nước ngoài, đồng thời yêu cầu thương nhân thực hiện quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam hoặc tổ chức việc thực hiện hoạt động nhập khẩu theo ủy thác của người mua hoặc chỉ định đại lý thương mại của mình tại Việt Nam.
  • Phối hợp với các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ rà soát và gỡ bỏ các sản phẩm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy trình, thủ tục công bố tại Quy chế hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử.
  • Ngăn chặn và loại bỏ khỏi website những thông tin mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, thuộc ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật
  • Gỡ bỏ thông tin về hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;
  • Cung cấp thông tin về đối tượng có dấu hiệu, hành vi vi phạm pháp luật trên sàn giao dịch thương mại điện tử cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi phát hiện hoặc nhận được các thông tin nêu trên;

Đặc biệt, đặc biệt đối với những sàn giao dịch TMĐT bán lẻ có tích hợp chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến, Nghị định 85 yêu cầu thêm như sau:

  • Chỉ định đầu mối tiếp nhận yêu cầu và cung cấp thông tin trực tuyến cho cơ quan quản lý nhà nước về các đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật; đầu mối này sẽ cung cấp thông tin trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận yêu cầu để kịp thời phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo;
  • Đại diện cho người bán nước ngoài trên sàn giao dịch thương mại điện tử giải quyết các khiếu nại của người tiêu dùng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ do thương nhân nước ngoài cung cấp và có trách nhiệm thông báo nghĩa vụ thuế của người bán nước ngoài khi tham gia sàn giao dịch thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam;
  • Là đầu mối tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của người tiêu dùng trong trường hợp một giao dịch thực hiện trên sàn giao dịch thương mại điện tử có nhiều hơn 02 bên tham gia;
  • Lưu trữ thông tin về các giao dịch đặt hàng được thực hiện trên sàn giao dịch thương mại điện tử theo quy định của pháp luật về kế toán;
  • Liên đới bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ quy định tại các khoản 8, khoản 9 Điều này mà gây thiệt hại.

7. Sự tham gia của thương nhân, tổ chức cung ứng dịch vụ logistics

Nghị định 85 chính thức công nhận thương nhân, tổ chức cung ứng dịch vụ logistics là một chủ thể của hoạt động thương mại điện tử. Nghị định này yêu cầu các website TMĐT bán hàng và sàn thương mại điện tử phân định rõ trách nhiệm về cung cấp chứng từ hàng hóa trong quá trình giao nhận của bên cung cấp dịch vụ logistics. Ngoài ra, thương nhân, tổ chức thiết lập website cung cấp dịch vụ TMĐT cũng phải bổ sung làm rõ mô hình hoạt động logistics đối với hàng hóa tại Đề án cung cấp dịch vụ TMĐT và Quy chế hoạt động của sàn giao dịch.

8. Công khai thông tin hàng hóa, dịch vụ trên website

Nghị định 85 sửa đổi quy định về thông tin hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động TMĐT tại Điều 30 Nghị định 52 theo hướng quản lý chặt hơn như sau: Thông tin về hàng hóa công bố trên website phải bao gồm các nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa theo quy định pháp luật về nhãn hàng hóa, trừ các thông tin có tính chất riêng biệt theo sản phẩm như: năm, tháng, ngày sản xuất; hạn sử dụng; số lô sản xuất; số khung, số máy. Đồng thời, người bán hàng hóa, dịch vụ phải đáp ứng điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải công bố số, ngày cấp và nơi cấp Giấy phép, Giấy chứng nhận đủ điều kiện, văn bản xác nhận, hoặc các hình thức văn bản khác theo quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh của ngành, nghề đó.

[1] Sách trắng Thương mại Điện tử Việt Nam 2021

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 08, 2021 – Nghị Định Số 47/2021/NĐ-CP Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Của Luật Doanh Nghiệp 2020

Phát hành 08/2021

Huỳnh Hoàng Sang
Luật sư Cộng sự

Nguyễn Thị Thu Hà
Trợ lý Luật sư

Ngày 01 tháng 04 năm 2021, Chính Phủ ban hành Nghị Định Số 47/2021/NĐ-CP Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Của Luật Doanh Nghiệp 2020 thay thế Nghị định số 81/2015/NĐ-CP, Nghị định số 93/2015/NĐ-CP, Nghị định số 96/2015/NĐ-CP và Quyết định số 35/2013/QĐ-TTg (“Nghị Định 47”). Nghị Định 47 sẽ hướng dẫn thực hiện một số quy định liên quan đến doanh nghiệp và cụ thể hóa một số vấn đề chưa được ghi nhận cụ thể trong Luật Doanh Nghiệp 2015 và sẽ có hiệu lực vào ngày 01 tháng 04 năm 2021.

Doanh Nghiệp Xã Hội

Nghị Định 47 bổ sung và quy định rõ hơn trách nhiệm của doanh nghiệp xã hội phải duy trì mục tiêu xã hội, môi trường, mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư và nội dung khác ghi tại Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường trong suốt quá trình hoạt động. Trừ trường hợp chấm dứt mục tiêu xã hội, môi trường trước thời hạn đã cam kết, doanh nghiệp xã hội phải hoàn lại toàn bộ các ưu đãi, khoản viện trợ, tài trợ mà doanh nghiệp xã hội đã tiếp nhận để thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường đã đăng ký nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ Cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường và mức lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư.

Doanh nghiệp xã hội thực hiện chia, tách doanh nghiệp, hợp nhất, sáp nhập với doanh nghiệp xã hội hoặc doanh nghiệp khác theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp.

Trường hợp chấm dứt mục tiêu xã hội, môi trường trước thời hạn đã cam kết và giải thể doanh nghiệp xã hội, số dư tài sản hoặc tài chính còn lại đối với nguồn tài sản, tài chính mà doanh nghiệp xã hội đã nhận phải trả lại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã viện trợ, tài trợ; chuyển cho các doanh nghiệp xã hội khác, tổ chức khác có mục tiêu xã hội tương tự hoặc chuyển giao cho Nhà nước theo quy định của Bộ luật dân sự.

Công Bố Thông Tin Của Doanh Nghiệp Nhà Nước

Liên quan đến công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước, Nghị Định 47 quy định về công bố thông tin dưới các hình thức, bao gồm: (i) Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp; (ii) Cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan đại diện chủ sở hữu; và (iii) Cổng thông tin doanh nghiệp.

Trước đây, chỉ có doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ có nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ. Tuy nhiên, Nghị Định 47 đã bổ sung quy định mới, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết thực hiện công bố thông tin định kỳ như sau:

  • Thông tin cơ bản về doanh nghiệp và điều lệ công ty.
  • Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm theo mẫu kèm theo Nghị định này trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện.
  • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức 06 tháng của doanh nghiệp theo mẫu kèm theo Nghị định này trước ngày 31 tháng 7 hằng năm.
  • Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức hằng năm của doanh nghiệp theo mẫu kèm theo Nghị định này trước ngày 30 tháng 6 của năm liền sau năm thực hiện.
  • Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính giữa năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập trước ngày 31 tháng 7 hàng năm.
  • Báo cáo và tóm tắt báo cáo tài chính hằng năm đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập, bao gồm báo cáo tài chính của công ty mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất (nếu có) theo quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp trong vòng 150 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.

Sở Hữu Chéo Giữa Các Công Ty Trong Nhóm Công Ty

Công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau.

Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên không được cùng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới, cùng mua phần vốn góp, mua cổ phần của doanh nghiệp đã thành lập, và cùng nhận chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp của các thành viên, cổ đông của doanh nghiệp đã thành lập. Cơ quan đăng ký kinh doanh từ chối đăng ký thay đổi thành viên, cổ đông công ty nếu trong quá trình thụ lý hồ sơ phát hiện có vi phạm liên quan đến các quy định này.

Download pdf version

LEGAL UPDATE – AUGUST 2021 – Decree No. 47/2021/ND-CP detailing a number of regulations of the Law on Enterprises 2020

Issue August 2021

Huynh Hoang Sang
Associate

Nguyen Thi Thu Ha
Assisting Lawyer

On April 1st, 2021, the Government promulgated Decree No. 47/2021/ND-CP detailing a number of regulations of the Law on Enterprises 2020 which replaced Decree No. 81/2015/ND-CP, Decree No. 93/2015/ND-CP, Decree No. 96/2015/ND-CP and Decision No. 35/2013/QD-TTg (“Decree 47”). Decree 47 shall guide a number of provisions pertaining to enterprises and concretize a number of issues which were not recorded specifically in the Law on Enterprises 2015 and take effect as of 04 January 2021.

Social Enterprises

Decree 47 supplements and regulates more clearly that social enterprises responsibility must maintain social and environmental objectives, retain earnings for reinvestment and other stipulations recorded on the Commitment on implementing social and environmental objectives during the operation term. Except in a case of early termination of its social and environmental objectives prior to the committed term, any social enterprise which fails to fulfil such Commitment or to retain profit for re-investment must refund all incentives, aid and support it received to achieve its registered social or environmental objectives.

Social enterprises is permitted to divide or separate, or consolidate or merge with another social enterprise or another enterprise in accordance with the relevant provisions of  the Law on Enterprises.

For termination of social and environmental objectives before the end of the committed term and dissolves, then the balance of its assets or the residual financial resources with respect to the assets and financial resources received by the social enterprise must be returned to the donor or transferred to another social enterprise or organization with similar social objectives or must be transferred to the State in accordance with the provisions of the Civil Code.

Information Disclosure of State-Owned Enterprises

Regarding the disclosure of information of state-owned enterprises, Decree 47 regulates on information disclosure in the form of, including: (i) the enterprise’s website, (ii) the portal or website of the owner’s representative agency, and (iii) the enterprise portal.

Previously, it was only obliged for State-owned enterprises whose 100% charter capital is held by the State to disclose periodic information. However, Decree 47 has supplemented new subjects under which State-owned enterprises whose 50% of charter capital or voting shares are held by the State have to disclose periodic information as follows:

  • Basic information about the enterprise and its company
  • Report on implementation of the annual production and business plan in the standard form attached with this Decree 47 before June 30th of the year preceding the succeeding year.
  • 6-month report on actual management and organizational structure of the enterprise in the standard form attached with this Decree 47 before July 31st every year.
  • Annual report on actual management and organizational structure of the enterprise in the standard form attached with this Decree 47 before June 30th of the execution year.
  • Six (6) monthly report and summarized report on the financial statements audited by an independent auditor before 31 July each year.
  • Annual report and summarized report on the financial statements audited by an independent auditor, including the financial statements of the parent company and consolidated financial statements (if any) in accordance with the law on enterprise accounting within 150 days from the end of the fiscal year.

Cross-ownership between Companies in A Group of Companies

Subsidiary companies are not permitted to invest in purchase of shares in or contribute capital to the parent company. Subsidiary companies of the same parent company are not permitted to jointly contribute capital or purchase shares at the same time in order to have mutual cross ownership.

Subsidiary companies having the same parent company which is a State-owned enterprise whose 65% of charter capital or voting shares or more is held by the State, are not permitted to jointly contribute capital to establish a new enterprise, jointly purchase capital contribution portion or shares of an established enterprise, and jointly receive transference capital contribution portion or shares from members or shareholders of established enterprise. The business registration authority shall refuse to register the change of members or shareholders of the company if during the course of processing dossiers, they find out that there are violations related to such regulations.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 06, 2021 – Những quy định đáng chú ý của nghị định 31/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư 2020

Phát hành 06/2021

Hà Thị Hải
Luật sư Thành viên

Phan Văn Huy
Trợ lý Luật sư

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 31/2021/NĐ-CP (“Nghị định 31”) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư về điều kiện đầu tư kinh doanh; ngành, nghề và điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm đầu tư kinh doanh; ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; thủ tục đầu tư; hoạt động đầu tư ra nước ngoài; xúc tiến đầu tư; quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài. Nghị định 31 có những nội dung đáng chú ý sau đây:

1. Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Tuân thủ cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam theo các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, một trong những điểm thay đổi quan trọng nhất của Luật đầu tư 2020 là quy định Nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư trong nước, trừ trường hợp đầu tư vào ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, Nghị định 31 đã ban hành Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Danh mục này quy định 84 ngành, nghề, trong đó bao gồm 25 ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, và 59 ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài. Theo nguyên tắc chọn – bỏ, Nghị định 31 một lần nữa khẳng định trừ những ngành, nghề thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư trong nước.

Nghị định 31 bổ sung khái niệm “Ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết về tiếp cận thị trường là ngành, nghề mà theo các điều ước quốc tế về đầu tư Việt Nam không có cam kết, chưa cam kết hoặc bảo lưu quyền ban hành các biện pháp không phù hợp với nghĩa vụ về tiếp cận thị trường, nghĩa vụ đối xử quốc gia hoặc các nghĩa vụ khác về không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài được quy định tại các điều ước quốc tế về đầu tư đó”. Đối với các ngành nghề Việt Nam chưa cam kết về tiếp cận thị trường, điều kiện tiếp cận thị trường sẽ được áp dụng theo quy định pháp luật Việt Nam nếu có. Trường hợp pháp luật Việt Nam không có quy định hạn chế tiếp cận thị trường đối với ngành, nghề đó thì nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư trong nước. Điều này có nghĩa là, theo quy định của Nghị định 31, về nguyên tắc, sẽ không còn quy trình lấy ý kiến của các Bộ quản lý ngành khi cơ quan đăng ký đầu tư xem xét cấp phép đầu tư nước ngoài trong các ngành nghề Việt Nam chưa cam kết về tiếp cận thị trường.

Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài trong các ngành, nghề quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài sẽ được đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đầu tư.

Thay đổi trên đây là một điểm mới rất quan trọng của Luật đầu tư 2020 khi chuyển từ nguyên tắc chọn – cho sang nguyên tắc chọn – bỏ để xem xét áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, thể hiện nỗ lực thu hút đầu tư nước ngoài của Chính phủ Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế 4.0 xuất hiện ngày càng nhiều hình thức kinh doanh mới. Tuy nhiên trên thực tế, các cơ quan quản lý ngành cũng như các cơ quan cấp phép địa phương sẽ mất nhiều thời gian để rà soát, nghiên cứu, thống nhất, triển khai thi hành quy định mới này.

2. Quy định chi tiết nhiều trường hợp điều chỉnh dự án đầu tư

Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị định 31 nói riêng và Luật đầu tư 2020 nói chung là việc tạo hành lang pháp lý cụ thể rõ ràng cho một số hình thức mua bán sáp nhập, điều chỉnh dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án đầu tư có sử dụng đất. Trước khi Luật đầu tư 2020 và Nghị định 31 ra đời, các hình thức mua bán sáp nhập dự án như tách dự án, sử dụng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để góp vốn hoặc hợp tác kinh doanh gặp khó khăn tại nhiều địa phương trên thực tế do chưa có quy định pháp luật cụ thể. Nay, ngoài các hình thức điều chỉnh dự án đã kế thừa từ Luật đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP như:

  • Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư
  • Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình tổ chức kinh tế
  • Điều chỉnh dự án đầu tư theo bản án, quyết định của tòa án, trọng tài

Nghị định 31 bổ sung thêm các trường hợp điều chỉnh dự án mới gồm:

  • Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng dự án đầu tư là tài sản bảo đảm
  • Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp chia, tách, sáp nhập dự án đầu tư
  • Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp sử dụng quyền sử đất, tài sản gắn liền với đất thuộc dự án đầu tư để góp vốn vào doanh nghiệp
  • Điều chỉnh dự án đầu tư trong trường hợp sử dụng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thuộc dự án đầu tư để hợp tác kinh doanh

Các hình thức điều chỉnh dự án mới tại Nghị định 31 được kỳ vọng sẽ góp phần làm sôi động thị trường mua bán sáp nhập dự án, đặc biệt là các dự án có sử dụng đất, trong bối cảnh nền kinh tế đang chịu sự ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19.

3. Điều kiện đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp

Nhằm thắt chặt quản lý hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, Luật Đầu tư 2020 đã bổ sung thêm hai điều kiện phải đáp ứng đối với trường hợp đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp là: Bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật đầu tư; và Đáp ứng quy định của pháp luật về đất đai về điều kiện nhận quyền sử dụng đất, điều kiện sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, xã, phường, thị trấn ven biển. Theo đó, Nghị định 31 bổ sung cơ chế lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an về việc đáp ứng các điều kiện nêu trên đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới và xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh, trừ trường hợp tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế được thành lập theo quy định của Chính phủ.

Để làm rõ điều kiện về khu vực có ảnh hưởng đến quốc phòng an ninh, Nghị định 31 đã đưa ra khái niệm “Khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh” bao gồm nhiều khu vực theo pháp luật về bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; theo pháp luật về cảnh vệ; theo pháp luật về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; theo quy định của Chính phủ về kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng; theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế – xã hội; Khu vực không cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở để bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Trên thực tế, đối với các nhà đầu tư nước ngoài và cả doanh nghiệp Việt Nam, việc xác định một địa điểm cụ thể có thuộc “Khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh” hay không là một công việc khó khăn phức tạp do có rất nhiều văn bản luật liên quan, thậm chí có những văn bản nội bộ của các cơ quan Nhà nước không được công bố.

4. Ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án đầu tư

Luật Đầu tư 2020 đã đưa ra một quy định mới có lợi cho nhà đầu tư khi cho phép nhà đầu tư bảo đảm thực hiện dự án bằng việc nộp bảo lãnh của tổ chức tín dụng về nghĩa thay vì bắt buộc phải nộp ký quỹ bằng tiền.

Nghị định 31 đã làm rõ nhà đầu tư thực hiện ký quỹ hoặc nộp chứng thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng sau khi được chấp thuận nhà đầu tư hoặc phê duyệt kết quả trúng đấu giá, và trước khi thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng (đối với trường hợp nhà đầu tư không tạm ứng tiền bồi thường hỗ trợ tái định cư), hoặc trước khi ban hành quyết định giao đất cho thuê đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Trong trường hợp việc bảo đảm thực hiện dự án bằng bảo lãnh của tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng sẽ phải nộp số tiền ký quỹ mà nhà đầu tư phải nộp trong trường hợp dự án bị chậm tiến độ đưa vào khai thác vận hành hoặc trường hợp dự án bị cơ quan đăng ký đầu tư chấm dứt hoạt động (trừ trường hợp chấm dứt dự án để bảo vệ di tích di vật cổ vật bảo vật quốc gia).

5. Bổ sung điều kiện, thủ tục ngừng hoạt động dự án đầu tư

Luật đầu tư 2020 đưa ra quy định mới cho phép nhà đầu tư được ngừng hoạt động của dự án đầu tư (mà không phải là chấm dứt dự án đầu tư). Đặc biệt trường hợp ngừng hoạt động của dự án vì lý do bất khả kháng thì nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất, giảm tiền sử dụng đất trong thời gian ngừng hoạt động.

Nghị định 31 quy định về điều kiện và trình tự thủ tục ngừng hoạt động của dự án đầu tư trong các trường hợp tự quyết định ngừng hoạt động của dự án đầu tư; cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư quyết định ngừng hoạt động của dự án đầu tư; dự án đầu tư gây phương hại hoặc có nguy cơ gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia. Tổng thời gian ngừng hoạt động của dự án đầu tư không quá 12 tháng.

6. Thu hút đầu tư vào doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo

Nghị định 31 bổ sung quy định về việc tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào các doanh nghiệp này. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài chỉ phải thực hiện thủ tục như quy định đối với nhà đầu tư trong nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp mà không phải thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hay đăng ký góp vốn mua cổ phần nếu doanh nghiệp đó đáp ứng một trong các điều kiện nhất định của dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo.

7. Nghị định 31 sửa đổi bổ sung, thay thế bãi bỏ nhiều Nghị định khác

Nghị định 31 có hiệu lực kể từ ngày 26 tháng 3 năm 2021 sửa đổi bổ sung một loạt các Nghị định có liên quan để phù hợp với các thay đổi mới tại Nghị định 31 như:

  • Nghị định 46/2014/NĐ-CP về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
  • Nghị định 52/2020/NĐ-CP về đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn;
  • Nghị định 25/2020/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư;
  • Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện;
  • Nghị định 82/2018/NĐ-CP quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế;
  • Nghị định 11/2013/NĐ-CP về quản lý đầu tư phát triển đô thị;
  • Nghị định 99/2003/NĐ-CP ban hành quy chế khu công nghệ cao;
  • Nghị định 94/2020/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách ưu đãi đối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia.

Đồng thời thay thế và bãi bỏ nhiều nghị định và quy định dưới đây:

  • Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư 2014;
  • Nghị định số 37/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2020 bổ sung Danh mục ngành, nghề ưu đãi đầu tư ban hành kèm theo Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư;
  • Nghị định số 83/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ quy định về đầu tư ra nước ngoài;
  • Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ đòi nợ;
  • Nghị định số 69/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ;
  • Nghị định số 79/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ đào tạo bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý vận hành nhà chung cư; kiến thức hành nghề môi giới bất động sản, điều hành sàn giao dịch bất động sản;
  • Điều 2 của Nghị định số 100/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.

Download pdf version

LEGAL UPDATE – JUNE 2021 – NOTABLE REGULATIONS OF DECREE NO. 31/2021/ND-CP DETAILING AND GUIDING THE ENFORCEMENT OF A NUMBER OF PROVISIONS OF THE LAW ON INVESTMENT 2020

Issue June 2021

Ha Thi Hai
Partner

Phan Van Huy
Assisting Lawyer

On March 26, 2021, the Government issued the Decree No. 31/2021/ND-CP (“Decree 31”) detailing and guiding the enforcement of a number of provisions of the Law on Investment on investment conditions; business lines and conditions for market access by foreign investors; guarantees for business investment; investment incentives and supports; overseas investment activities; investment promotion; state management of investment in Vietnam and overseas investment. Below are notable contents:

1. List of business lines restricted from foreign investors’ market access

Complying with Vietnam’s commitments to market opening under new generation free trade agreements, one of the most important changes of the Investment Law 2020 is the regulation that foreign investors may apply market access conditions applicable to domestic investors, except for investment in business lines restricted from foreign investors’ market access. Accordingly, Decree 31 has promulgated the List of business lines restricted from foreign investors’ market access. This list provides for 84 business lines, including 25 business lines not allowed to foreign investors’ market access, and 59 business lines conditional to foreign investors’ market access. According to the principle of negative listing, Decree 31 once again affirms that, except for those business lines restricted from foreign investors’ market access, foreign investors shall be able to access the market same as domestic ones.

Decree 31 provides for the concept of “business lines without market access commitment of Vietnam which are business lines that, under investment-related international treaties, Vietnam made no any commitment or reserved the right to impose measures against market access obligations, national treatment or other obligations on non-discriminatory treatment between domestic investors and foreign investors”. For business lines without market access commitment of Vietnam, market access conditions will be applied in accordance with Vietnamese laws, if any. Where Vietnamese laws provides for no regulation on market access restriction to such business lines, foreign investors shall be able to access the market same as domestic ones. That means Decree 31 should be interpreted that there shall be no process for obtaining opinions from governing ministries when the investment registration agency considers granting foreign investment licenses into business lines without market access commitment of Vietnam.

Market access conditions for foreign investors in the business lines specified in the List of business lines restricted from foreign investors’ market access will be publicly posted on the National Investment Portal.

The above change is a very important new point of the Investment Law 2020 when changing from the principle of positive listing to the principle of negative listing to consider applying market access conditions to foreign investors which express the efforts of Vietnamese Government to attract foreign investment, especially in the context of the 4.0 economy where more and more new forms of business are coming. However, in practice, specialized management agencies as well as local licensing agencies will take a long time to review, research, unify and implement this new regulation.

2. Detailing many cases of adjustment of investment projects

One of the important new points of Decree 31 in particular and the Law on Investment 2020 in general is the provisions for detailed legal corridors for new forms of investment project mergers and acquisitions, especially investment projects using land. Before the issuance of the Law on Investment 2020 and Decree 31, forms of merger and acquisition of projects such as separation of projects, use of land use rights and properties attached land for contribution of capital or contribution to business cooperation faced difficulties in many provinces due to the lack of specific regulations. Now, in addition to the forms of project adjustment inherited from the Investment Law 2014 and Decree 118/2015/ND-CP such as:

  • Adjustment of investment projects in case investors partially or wholly transfer investment projects
  • Adjustment of investment projects in case of division, separation, merger or conversion of economic organizations
  • Adjustment of investment projects according to court or arbitration judgments or decisions

Decree 31 adds new forms of project adjustment including:

  • Adjustment of investment projects in case investors receive the transfer of investment projects which are collateral assets
  • Adjustment of investment projects in case of division, separation or merger of investment projects
  • Adjustment of investment projects in case of use of land use rights andproperties attached to land belonging to investment projects as capital contribution to enterprises
  • Adjustment of investment projects in case of use of land use rightsand properties attached to land belonging to investment projects for business cooperation

New forms of project adjustment in Decree 31 are expected to make the mergers and acquisitions market more exciting, especially land-use projects, in the context that the economy is being heavily affected by the Covid-19 epidemic.

3. Conditions for investment in the form of capital contribution, share purchase or purchase of contributed capital

In order to tighten the management of investment activities of foreign investors in the form of capital contribution, share purchase, purchase of contributed capital, the Investment Law 2020 added two additional mandatory conditions for investment in the form of capital contribution, share purchase, purchase of contributed capital which are: Ensuring national defense and security in accordance with the Law on Investment; and Satisfying the provisions of law on land on conditions for receiving land use rights, conditions for land use in islands, border communes, wards and towns, coastal communes, wards and towns. Accordingly, Decree 31 supplements the mechanism of consultation with the Ministry of National Defense and the Ministry of Public Security on satisfaction of the above conditions for foreign investors investing in the form of capital contribution, share purchase, purchase of capital contributions to economic organizations with land use right certificates in islands, border communes, wards and towns, coastal communes, wards and towns; other areas affecting national defense and security, except for economic organizations implementing investment projects in industrial parks, export processing zones, high-tech parks and economic zones established under the Government’s regulations.

In order to clarify conditions on areas affecting national defense and security, Decree 31 introduced the concept of “Other areas affecting national defense and security” including many areas under the law on protection of defense works and military zones; in accordance with the law on guards; the law on protection of important works related to national security; the Government’s regulations on combining national defense with socio-economic and socio-economic with national defense; the Prime Minister’s decision on approving the master plan on defense layout combined with socio-economic development; The area prohibiting foreign organizations and individuals to own houses to ensure national defense and security in accordance with the law on housing.

In fact, for both foreign investors and Vietnamese enterprises, determining whether a specific location subject to Other areas affecting national defense and security” is a complicated task due to the fact that there are many relevant legal documents, even internal documents of State agencies which are not public.

4. Security deposit for implementation of investment projects

The Investment Law 2020 introduced a new regulation that benefits investors by allowing investors to secure the implementation of the project by submitting a credit institution’s guaranty instead of compulsory deposit in cash.

The Decree 31 clarifies that the investors shall have to make a deposit or submit the guarantee certificate of a credit institution after the investor’s approval or approval of the auction winning result, and before making compensation for ground clearance (in case the investor does not advance the compensation for resettlement support) or before the decision on land allocation or lease or approval on the change of land use purposes. In case the project is secured by a guarantee certificate of a credit institution, such credit institution shall have to pay the deposit amount which is payable by the investor in case the project’s schedule for putting into exploitation and operation is delayed or in case the project is terminated by the investment registration agency (except for case of termination of the project to protect national relics, antiquities or treasures).

5. Supplementation of conditions and procedures for shutdown of investment projects

The Investment Law 2020 provides for new regulation allowing investors to cease operation of investment projects (without terminating investment projects). Especially, in case of shutdown of the project due to force majeure, investors are entitled to land rental exemption or land use fee reduction during the shutdown period.

Decree 31 provides for conditions and procedures for shutdown of investment projects in cases of self-determination of shutdown of investment projects; decision for cease operation of investment projects of state investment management agencies; investment projects causing harm or risk to national defense and security. The total downtime of the investment project shall not exceed 12 months.

6. Attraction of investment in innovative start-up small and medium-sized enterprises and innovative start-up investment funds

Decree 31 supplements the regulations on facilitating foreign investors to establish innovative start-up small and medium-sized enterprises or contribute capital, buy shares or capital contributions to these enterprises. Accordingly, foreign investors shall only need to conduct procedures as prescribed for domestic investors in accordance with the Law on Enterprises without obtaining Investment Registration Certificate or approval for capital contribution, share purchase, contributed capital purchase if such enterprises meet certain conditions of innovative start-up investment projects. 

7. Decree 31 amends, replaces and abols many other Decrees

Decree 31 takes effect on March 26, 2021, amending and supplementing many of relevant Decrees to conform with new changes in Decree 31 such as:

  • Decree No. 46/2014/ND-CP on land and water surface rents;
  • Decree No. 52/2020/ND-CP on golf course investment and business;
  • Decree No. 25/2020/ND-CP on elaboration of some Articles of the Law on Bidding on investor selection;
  • Decree No. 96/2016/ND-CP providing for security and order conditions for a number of conditional business lines;
  • Decree No. 82/2018/ND-CP on management of industrial parks and economic zones;
  • Decree No. 11/2013/ND-CP on management of investment in urban development;
  • Decree No. 99/2003/ND-CP on promulgation of hi-tech zone regulations;
  • Decree No. 94/2020/ND-CP regulating preferential mechanisms and policies for Vietnam National Innovation Center.

At the same time replace and repeal many of the following decrees and regulations:

  • Decree of Government No. 118/2015/ND-CPdated November 12, 2015, guidelines for some Articles of the Law on Investment;
  • Decree No. 37/2020/ND-CPdated March 30, 2020 on amendments to list of industries benefitting from investment incentives attached to Decree No. 118/2015/ND-CP on elaborating to Law on Investment;
  • Decree No. 83/2015/ND-CPdated September 25th 2015, regulations on outward investment;
  • Decree No. 104/2007/ND-CPof June 14, 2007, on provision of debt collection services.;
  • Decree No. 69/2016/ND-CPdated July 01, 2016, requirements for running debt trading service;
  • Decree No. 79/2016/ND-CPdated July 01, 2016, conditions for training business in specialist knowledge, professional competence in management and operation of apartment buildings, knowledge of real estate brokerage practicing, real estate transaction management;
  • Article 2 of Decree No. 100/2018/ND-CPdated July 16, 2018 amending and annulling some regulations on necessary business conditions in fields under the management of the Ministry of Construction.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 04, 2021 – QUY ĐỊNH MỚI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CHẾ XUẤT

Phát hành tháng 04 năm 2021

Nguyễn Thị Ngân
Trợ lý Pháp lý

Nghị định 18/2021/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định 134/2016/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sẽ có hiệu lực vào ngày 25/4/2021. Điểm nổi bật của Nghị định mới là quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục đăng ký, cơ chế quản lý, giám sát các doanh nghiệp chế xuất (“DNCX”). Thủ tục đăng ký để áp dụng cơ chế chế xuất của doanh nghiệp được đơn giản hóa và thống nhất quy trình giữa các cơ quan quản lý là cơ quan cấp phép đầu tư (Sở KHĐT hoặc Ban QL KCN) và cơ quan hải quan. Cơ quan cấp phép phê chuẩn đăng ký loại hình DNCX dựa trên bản cam kết đáp ứng điều kiện của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sau đó sẽ có một khoảng thời gian mở là 1 năm kể từ ngày bắt đầu đi vào hoạt động để hoàn thành cơ sở hạ tầng đáp ứng các điều kiện đối với DNCX.

1. Điu kin kim tra, giám sát hi quan đối vi DNCX

Điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan đối với DNCX bao gồm:

a) Có hàng rào cứng ngăn cách với khu vực bên ngoài; có cổng/cửa ra, vào đảm bảo việc đưa hàng hóa ra, vào doanh nghiệp chế xuất chỉ qua cổng/cửa.

b) Có hệ thống ca-mê-ra quan sát được các vị trí tại cổng/cửa ra, vào và các vị trí lưu giữ hàng hóa ở tất cả các thời điểm trong ngày (24/24 giờ, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ); dữ liệu hình ảnh ca-mê-ra được kết nối trực tuyến với cơ quan hải quan quản lý doanh nghiệp và được lưu giữ tại doanh nghiệp chế xuất tối thiểu 12 tháng.

c) Có phần mềm quản lý hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế của doanh nghiệp chế xuất để báo cáo quyết toán nhập- xuất- tồn về tình hình sử dụng hàng hóa nhập khẩu theo quy định pháp luật về hải quan.

2. Kim tra thc tế điu kin kim tra, giám sát hi quan

Việc kiểm tra thực tế điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan theo Nghị định 18 sẽ được áp dụng đối với DNCX đăng ký theo quy định mới và các DNCX đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước ngày Nghị định 18 có hiệu lực thi hành và đang trong quá trình hoạt động, bao gồm cả các doanh nghiệp chế xuất đã được cơ quan hải quan xác nhận về điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan trước ngày Nghị định 18 có hiệu lực thi hành.

Tất cả các DNCX đang trong quá trình hoạt động có thời hạn tối đa không quá 01 năm kể từ ngày Nghị định 18 có hiệu lực thi hành (25/4/2022) phải hoàn thiện các điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan và đăng ký để Chi cục Hải quan nơi quản lý doanh nghiệp chế xuất hoàn thành kiểm tra việc đáp ứng các điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan và ra văn bản xác nhận đủ điều kiện cho doanh nghiệp chế xuất.

Quá thời hạn 01 năm kể từ ngày Nghị định 18 có hiệu lực thi hành, DNCX (i) không thực hiện thông báo; hoặc (ii) không đáp ứng các điều kiện kiểm tra, giám sát hải quan thì không được áp dụng chính sách thuế đối với khu phi thuế quan kể từ ngày quá thời hạn 01 năm nêu trên. Khi đó, DNCX sẽ phải trả lại các khoản thuế chưa đóng do được hưởng ưu đãi của DNCX.

Download pdf version