BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 8, 2026 – CÁC THAY ĐỔI ĐÁNG CHÚ Ý TẠI DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH THAY THẾ NGHỊ ĐỊNH 35/2020/NĐ-CP QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CẠNH TRANH

Phát hành Tháng 08/2026

Hà Thị Hải
Luật sư Thành viên

Nguyễn Thùy An
Luật sư Cộng sự Cấp cao

DẪN NHẬP:

Hiện Bộ Công Thương đang xây dựng Dự thảo Nghị định thay thế Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh (“Dự thảo”) và lấy ý kiến các đối tượng chịu tác động. Dưới đây là một số thay đổi đáng chú ý của Dự thảo liên quan đến tập trung kinh tế (“TTKT”) có thể có tác động tới thị trường M&A tại Việt Nam.

1. BỔ SUNG ĐỊNH NGHĨA “BỘ PHẬN ĐIỀU HÀNH”

Điều 2.3 Dự thảo bổ sung định nghĩa “bộ phận điều hành” bao gồm: (1) Người sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, (2) Người có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng trên 50% tài sản của doanh nghiệp trong toàn bộ hoặc một ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp, (3) Người quản lý doanh nghiệp theo quy định của pháp luật doanh nghiệp, (4) Người hoặc nhóm người có quyền quyết định một trong các vấn đề sau của doanh nghiệp: tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị; quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty; tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty”. Việc bổ sung định nghĩa này là cơ sở cho việc xác định “nhóm doanh nghiệp liên kết” do có bộ phận điều hành chung. Tuy nhiên, nếu không có quy định hay hướng dẫn cụ thể hơn, định nghĩa này sẽ còn nhiều điểm chưa rõ hoặc tạo ra các quan điểm khác nhau khi áp dụng thực tế, ví dụ như: xác định “người có quyền sử dụng trên 50% tài sản doanh nghiệp trong một ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp” như thế nào để tránh những trường hợp không thực sự liên quan đến điều hành doanh nghiệp? Việc xác định “Nhóm người” dựa trên tiêu chí nào, tiêu chí quan hệ gia đình hay tiêu chí có thoả thuận thương mại, hay không cần tiêu chí cụ thể nào cả? Khái niệm “nhóm người” chỉ được nêu rõ trong trường hợp (4) mà không được nêu trong các trường hợp khác có dẫn đến cách hiểu “Người” ở các trường hợp khác là một cá nhân đơn lẻ? Hai pháp nhân chỉ có cùng một người quản lý bất kỳ trong số những người quản lý doanh nghiệp (theo khái niệm của Luật doanh nghiệp) thì có thực sự là có “bộ phận điều hành chung” và thực sự thuộc “nhóm doanh nghiệp liên kết”? vv.vv

2. BỔ SUNG CƠ SỞ XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM LIÊN QUAN TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT VÀ THỊ TRƯỜNG ĐỊA LÝ LIÊN QUAN

Khi xác định thị trường sản phẩm liên quan trong trường hợp đặc biệt, ngoài các yếu tố xác định khả năng thay thế theo Nghị định 35/2020/NĐ-CP, Điều 6.1 Dự thảo còn xem xét đến “thuộc tính thay thế cho nhau về các yếu tố cạnh tranh khác có liên quan, bao gồm cả chất lượng của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ”.

Đối với thị trường địa lý liên quan, bên cạnh “khu vực địa lý cụ thể”, Điều 7 Dự thảo mở rộng thị trường địa lý liên quan theo “phạm vi không gian cụ thể” và bổ sung yếu tố xác định ranh giới của khu vực địa lý/phạm vi không gian theo “khả năng tiếp cận, mua và sử dụng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ liên quan của khách hàng, người sử dụng tại khu vực địa lý lân cận hoặc phạm vi không gian khác” để bao quát những trường hợp liên quan đến mô hình, phương thức hoạt động kinh doanh trên không gian mạng trong nền kinh tế số. Tuy nhiên, khái niệm “phạm vi không gian cụ thể” còn khá mới và mơ hồ. Ví dụ mạng internet có được xác định là một phạm vi không gian không, hay một nền tảng thương mại điện tử cụ thể như Grab hay Amazon có được coi là một phạm vi không gian cụ thể hay không?

3. BỔ SUNG CÁC HÌNH THỨC TTKT KHÁC

Ngoài 04 hình thức TTKT được kế thừa từ quy định hiện hành là sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp và liên doanh giữa các doanh nghiệp, Điều 19 Dự thảo bổ sung các hình thức TTKT khác bao gồm (1) đồng kiểm soát doanh nghiệp, (2) thiết lập bộ phận điều hành chung (3) giành quyền kiểm soát, chi phối thông qua thỏa thuận hoặc các phương thức khác ngoài mua vốn góp, tài sản.

Đây là điểm mới đáng chú ý đối với thị trường M&A khi Dự thảo có xu hướng mở rộng phạm vi kiểm soát TTKT sang cả các giao dịch thiết lập quyền kiểm soát thực tế, ngoài các giao dịch thay đổi sở hữu vốn và tài sản.

Đồng kiểm soát: việc dự thảo giới thiệu khái niệm “đồng kiểm soát” bên cạnh khái niệm “kiểm soát, chi phối” trong quy định hiện hành sẽ mở rộng đáng kể các giao dịch thuộc phạm vi kiểm soát TTKT. Theo đó, không chỉ các giao dịch mua chi phối mà các giao dịch đầu tư thiểu số mà bên mua có quyền phủ quyết (veto rights) đối với bất kỳ vấn đề nào trong số các vấn đề quan trọng (được liệt kê trong Nghị định) giờ đây cũng thuộc các hình thức giao dịch TTKT.

Thiết lập bộ phận điều hành chung: việc bổ sung hình thức “thiết lập bộ phận điều hành chung” có thể dẫn đến việc một số giao dịch hợp tác kinh doanh trước đây không được nhìn nhận dưới góc độ TTKT nay có thể thuộc phạm vi kiểm soát TTKT. Chẳng hạn, các thỏa thuận cho phép hai doanh nghiệp cùng có chung bất kỳ nhân sự quản lý chủ chốt hoặc cùng thiết lập cơ chế điều hành đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp liên quan có thể cần được đánh giá thêm về khả năng hình thành “bộ phận điều hành chung” theo Dự thảo.

Giành quyền kiểm soát, chi phối thông qua thỏa thuận hoặc các phương thức khác: Việc bổ sung quy định này có thể đưa vào phạm vi kiểm soát TTKT những giao dịch không làm thay đổi cơ cấu sở hữu nhưng vẫn mang lại cho một bên khả năng quyết định hoặc chi phối nhất định với hoạt động của doanh nghiệp khác. Theo đó, các thỏa thuận cổ đông, hợp đồng quản lý, hợp đồng vận hành hoặc các cơ chế tương tự có thể cần được xem xét không chỉ dưới góc độ quan hệ dân sự, thương mại mà còn dưới góc độ pháp luật cạnh tranh. Ví dụ như một hợp đồng quản lý khách sạn (Hotel management agreement) có thể bị xem là giao dịch làm phát sinh quyền kiểm soát hoặc đồng kiểm soát theo Dự thảo do đơn vị quản lý vận hành (Operator) trong một số trường hợp có quyền hạn rất rộng như lập và thực hiện kế hoạch kinh doanh, quyết định và sử dụng ngân sách trong một phạm vi nhất định, tuyển dụng và sa thải Tổng quản lý (GM), vv.vv

4. QUY ĐỊNH MỚI VỀ TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC MIỄN TRỪ THỦ TỤC THÔNG BÁO TTKT

Nghị định 35/2020/NĐ-CP không loại trừ bất kỳ giao dịch TTKT nào khỏi nghĩa vụ thông báo TTKT nếu đạt ngưỡng. Dự thảo lần đầu quy định tại Điều 20 các trường hợp được miễn trừ thủ tục thông báo TTKT, bao gồm giao dịch nội bộ và các giao dịch khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc quyết định theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phạm vi các giao dịch nội bộ được miễn trừ thủ tục thông báo TTKT chỉ giới hạn ở các hình thức giao dịch hợp nhất, sáp nhập, mua lại, liên doanh, và đối tượng được miễn trừ chủ yếu là các doanh nghiệp đã có sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% phần vốn có quyền biểu quyết của nhau, hoặc cùng được một doanh nghiệp khác sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp trên 50% phần vốn có quyền biểu quyết. Như vậy, tiêu chí xác định tính chất “nội bộ” để xét ngoại lệ dường như chỉ tập trung vào sở hữu vốn trên 50% mà không xét đến các yếu tố khác như “có bộ phận điều hành chung” hay “kiểm soát, chi phối”.

5. LÀM RÕ CÁC NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH THỊ PHẦN TRÊN THỊ TRƯỜNG LIÊN QUAN

Điều 9 Dự thảo bổ sung các khái niệm về doanh số mua vào, doanh thu bán ra và giá trị giao dịch để xác định thị phần; đồng thời bổ sung phương pháp xác định thị phần dựa trên số lượng giao dịch và giá trị giao dịch, bên cạnh các phương pháp hiện hành.

6. LÀM RÕ CÁC TRƯỜNG HỢP TTKT ĐƯỢC THỰC HIỆN

Điều 24.2 Dự thảo bổ sung trường hợp TTKT được thực hiện mà không phải xem xét tiêu chí thị phần kết hợp hay HHI, trong trường hợp các doanh nghiệp tham gia TTKT không kinh doanh trên cùng thị trường liên quan, không có mối quan hệ trùng lắp theo chiều ngang hay bổ trợ theo chiều dọc.

Đối với trường hợp các doanh nghiệp vừa có mối quan hệ trùng lắp theo chiều ngang vừa có mối quan hệ bổ trợ theo chiều dọc, Điều 24.3 Dự thảo quy định việc TTKT được thực hiện khi đáp ứng đồng thời 02 điều kiện là (1) thị phần dưới 20% trên từng thị trường liên quan, và (2) thuộc một trong các trường hợp TTKT theo chiều ngang được thực hiện xét theo tiêu chí về thị phần kết hợp, HHI hoặc mức tăng HHI theo quy định.

7. QUY ĐỊNH MỚI VỀ TRƯỜNG HỢP DOANH NGHIỆP ĐƯỢC YÊU CẦU SỬA ĐỔI, CHẤM DỨT MỘT PHẦN HOẶC TOÀN BỘ CÁC ĐIỀU KIỆN TTKT

Điều 25.5 Dự thảo lần đầu quy định cho phép doanh nghiệp yêu cầu Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sửa đổi hoặc chấm dứt một phần hoặc toàn bộ điều kiện TTKT trong trường hợp (1) pháp luật thay đổi khiến điều kiện không thể thực hiện hoặc không còn phù hợp, (2) thị phần của doanh nghiệp thấp hơn 20% trên thị trường liên quan trong 02 năm liên tục kể từ sau năm thực hiện TTKT, hoặc (3) HHI trên thị trường liên quan thấp hơn 1.800 trong 02 năm liên tục kể từ sau năm thực hiện TTKT. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có trách nhiệm trả lời yêu cầu trong thời hạn 60 ngày.

8. CẦN HOÀN THIỆN THÊM DỰ THẢO

Nhìn chung, Dự thảo đã bổ sung và làm rõ nhiều vấn đề còn vướng mắc trong quá trình áp dụng Nghị định 35/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, Dự thảo cũng có một số sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh và tăng mức độ kiểm soát, chẳng hạn việc bổ sung thêm hình thức TTKT, có thể làm gia tăng gánh nặng thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp khi thực hiện giao dịch. Do đó, kỳ vọng Dự thảo sẽ tiếp tục được rà soát, điều chỉnh trước khi ban hành chính thức để bảo đảm tính rõ ràng, khả thi và cân bằng giữa yêu cầu kiểm soát TTKT và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 8, 2026 – BẤT CẬP TRONG BIỂU MẪU MỚI CỦA GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ

Phát hành Tháng 08/2026

Hà Thị Hải
Luật sư Thành viên

Nguyễn Thanh Lâm
Luật sư Cộng sự

DẪN NHẬP:

Ngày 15/5/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 55/2026/TT-BTC quy định mẫu văn bản, báo cáo liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam và xúc tiến đầu tư, có hiệu lực kể từ ngày ký (“Thông Tư 55”). Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng thực tế, một số quy định trong các biểu mẫu này đã bộc lộ những bất cập nhất định, đáng chú ý là biểu mẫu Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“GCNĐKĐT”).

Cụ thể, theo Thông tư 55, Điều 1.6 của biểu mẫu GCNĐKĐT quy định: “Việc góp vốn đầu tư bằng tiền phải được thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp mở tại ngân hàng được phép”. Quy định trên xuất hiện trong biểu mẫu GCNĐKĐT áp dụng trong cả các trường hợp cấp mới, điều chỉnh, cấp lại, hiệu đính.

Quy định nêu trên trong biểu mẫu GCNĐKĐT tưởng như phù hợp với quy định về quản lý ngoại hối đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tế việc ghi nhận nội dung này một cách tuyệt đối trong tất cả các GCNĐKĐT, không kèm bất kỳ ngoại lệ nào, đang tạo ra những vướng mắc đáng kể cho nhà đầu tư và doanh nghiệp.

1. KHÔNG PHẢI MỌI DOANH NGHIỆP/NHÀ ĐẦU TƯ ĐƯỢC CẤP GCNĐKĐT ĐỀU PHẢI MỞ TÀI KHOẢN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP (“DICA”)

Thông tư 06/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (“Thông tư 06”) quy định: Việc góp vốn đầu tư bằng tiền của nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư Việt Nam phải được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản DICA. Trong đó, “Nhà đầu tư nước ngoài” (“NĐTNN”) bao gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

Hơn nữa, không phải tất cả các trường hợp NĐTNN đầu tư vào Việt Nam đều phải góp vốn bằng tiền qua DICA, mà chỉ những NĐTNN đầu tư vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 của Thông tư 06 (là các doanh nghiệp có NĐTNN là thành viên/cổ đông khi thành lập mới, hoặc là doanh nghiệp có NĐTNN sở hữu trên 50% vốn điều lệ) mới phải chuyển tiền góp vốn qua DICA của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó.

Trong khi đó, đối tượng được cấp GCNĐKĐT không chỉ bao gồm nhà đầu tư là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài, mà còn cấp cho các đối tượng khác như nhà đầu tư “F2” (tức tổ chức kinh tế được thành lập tại Việt Nam có thành viên hoặc cổ đông là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài). Thậm chí, trên thực tế, một số doanh nghiệp không có vốn đầu tư nước ngoài cũng có thể có GCNĐKĐT.

Việc quy định tại Điều 1.6 của biểu mẫu GCNĐKĐT theo Thông tư 55 không ghi nhận bất kỳ điều kiện, giới hạn hoặc ngoại lệ nào, chẳng hạn như “trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác” hoặc “theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối”, có thể dẫn đến cách hiểu rằng mọi khoản góp vốn đầu tư bằng tiền của nhà đầu tư/doanh nghiệp được cấp GCNĐKĐT đều phải được thực hiện thông qua DICA. Điều này đã vô hình chung mở rộng phạm vi áp dụng nghĩa vụ mở tài khoản DICA so với quy định tại Thông tư 06.

Mặc dù có thể nhìn nhận được bất cập nêu trên, nhưng do chưa có hướng dẫn từ cơ quan có thẩm quyền, Sở Tài chính tại một số địa phương đang áp dụng khá cứng nhắc khi vẫn giữ nguyên nội dung này khi cấp GCNĐKĐT cho các dự án/nhà đầu tư không thuộc đối tượng mở tài khoản DICA theo Thông tư 06. Theo đó, do nhà đầu tư trong nước hoặc do nhà đầu tư “F2” thực hiện cũng đối mặt với nghĩa vụ phải thực hiện việc góp vốn thông qua tài khoản DICA theo quy định tại GCNĐKĐT. Từ đó, trên thực tế đã phát sinh những vướng mắc đáng kể trong quá trình triển khai dự án được cấp GCNĐKĐT.

2. NHÀ ĐẦU TƯ RƠI VÀO THẾ “KHÔNG THỂ TUÂN THỦ”

Đáng chú ý, theo Điều 29.3 Luật Đầu tư 2025, nhà đầu tư có trách nhiệm tuân thủ các nội dung quy định trong GCNĐKĐT. Tuy nhiên, trên thực tế, khi doanh nghiệp là nhà đầu tư F2 đề nghị ngân hàng thương mại mở tài khoản DICA để tuân thủ quy định trong GCNĐKĐT, nhiều ngân hàng thương mại đã từ chối vì doanh nghiệp là nhà đầu tư F2 không thuộc đối tượng mở tài khoản DICA theo Thông tư 06, thậm chí đề nghị tạm hoãn việc ghi có tiền góp vốn của doanh nghiệp cho đến khi có hướng dẫn rõ ràng tài khoản nhận tiền góp vốn thực hiện theo GCNĐKĐT hay Thông tư 06.

Điều này khiến doanh nghiệp/nhà đầu tư rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” khi không thể vừa tuân thủ quy định trong GCNĐKĐT vừa tuân thủ việc góp vốn đầu tư theo Thông tư 06, và đối mặt với rủi ro không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn đúng thời hạn theo Luật Doanh nghiệp 2025, kéo theo nguy cơ phải điều chỉnh vốn điều lệ, thay đổi tỷ lệ sở hữu, phát sinh thêm chi phí tuân thủ hoặc thậm chí bị xử phạt vi phạm hành chính do chậm góp vốn.

3. CẦN SỚM CÓ HƯỚNG DẪN

Trong bối cảnh Nhà nước đang nỗ lực giảm bớt gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài, biểu mẫu GCNĐKĐT chỉ nên là công cụ ghi nhận, không phải công cụ tạo ra nghĩa vụ mới ngoài phạm vi luật định. Trong khi chờ đợi việc xem xét sửa đổi biểu mẫu GCNĐKĐT, điều cần thiết là sớm có hướng dẫn chính thức từ cơ quan có thẩm quyền để các cơ quan cấp phép áp dụng linh hoạt theo hướng đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ góp vốn qua tài khoản DICA được xác định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thay vì để các Sở Tài chính và ngân hàng thương mại tự diễn giải và áp dụng cứng nhắc đối với mọi trường hợp mà không phân biệt đặc thù của từng dự án và từng nhà đầu tư.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 4, 2026 – QUỸ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ: ĐÒN BẨY KHUYẾN KHÍCH NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CHO DOANH NGHIỆP

Phát hành Tháng 04/2026

Nguyễn Đăng Việt
Luật sư Thành viên

Bùi Hương Thảo
Trợ lý Luật sư

DẪN NHẬP:

Ngày 31/12/2024, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 182/2024/NĐ-CP, lần đầu tiên Việt Nam thiết lập một Quỹ hỗ trợ đầu tư với quy mô và cơ chế ưu đãi tài chính tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn và trí tuệ nhân tạo. Nghị định này là một chính sách then chốt nhằm thúc đẩy đầu tư vào các ngành công nghệ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo, mở ra cơ hội tiếp cận nguồn lực tài chính công cho các doanh nghiệp đủ điều kiện và thể hiện định hướng dài hạn của Chính phủ trong việc thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế.

Bài viết dưới đây sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt những điều kiện cần thiết để được hỗ trợ, liệt kê các loại chi phí được ưu đãi và hướng dẫn chi tiết quy trình thực hiện thủ tục đăng ký, giải ngân theo quy định mới này.

1. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN HƯỞNG HỖ TRỢ

Theo Nghị định 182/2024/NĐ-CP, doanh nghiệp được hưởng hỗ trợ đầu tư khi đáp ứng các tiêu chí như sau:

 
STT Loại doanh nghiệp/dự án Quy mô vốn tối thiểu (tỷ đồng) Doanh thu tối thiểu (tỷ đồng/năm) Điều kiện đặc biệt Điều kiện giải ngân vốn đầu tư
1 Doanh nghiệp công nghệ cao có dự án đầu tư 12.000 20.000 Giải ngân tối thiểu 12.000 tỷ trong 5 năm hoặc 10.000 tỷ trong 3 năm
2 Doanh nghiệp có dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao hoặc ứng dụng công nghệ cao 12.000 20.000 Giải ngân tối thiểu 12.000 tỷ trong 5 năm hoặc 10.000 tỷ trong 3 năm
3 Doanh nghiệp (1) và (2) có dự án trong lĩnh vực công nghiệp chip, mạch tích hợp bán dẫn, trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo 6.000 10.000 Giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ trong 5 năm hoặc 4.000 tỷ trong 3 năm
4 Doanh nghiệp (1) và (2) có công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao đột phá Không yêu cầu Không yêu cầu Sản phẩm, công nghệ phải thuộc danh mục do Thủ tướng ban hành tại Quyết định Số 38/2022/QĐ-TTg Không yêu cầu
5 Doanh nghiệp có dự án thiết kế vi mạch Không yêu cầu Không yêu cầu Cam kết sử dụng ≥ 300 kỹ sư VN sau 5 năm, hỗ trợ đào tạo ≥ 30 kỹ sư/năm Không yêu cầu
6 Dự án trung tâm R&D 3.000 Phải đăng ký hoạt động theo pháp luật về KH&CN Giải ngân tối thiểu 1.000 tỷ trong 3 năm
7 Doanh nghiệp (1) và (2) điều chỉnh tăng vốn ≥ 12.000 (sau điều chỉnh) Nếu số vốn tăng < 10.000 tỷ thì phải giải ngân tối thiểu 10.000 tỷ trong 3 năm

Nếu số vốn tăng ≥  10.000 tỷ thì phải giải ngân 12.000 tỷ trong 5 năm

8 Doanh nghiệp (3) điều chỉnh tăng vốn ≥ 6.000 (sau điều chỉnh) Nếu số vốn tăng < 4.000 tỷ đồng thì phải giải ngân tối thiểu 4.000 tỷ trong 3 năm

Nếu số vốn tăng ≥ 6.000 tỷ trong 5 năm thì phải giải ngân tối thiểu 6.000 tỷ trong 5 năm

Các điều kiện tài chính chung bao gồm:

  • Điều kiện giải ngân vốn đầu tư được tính từ ngày được cấp, cấp điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư / Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư / Quyết định chấp thuận nhà đầu tư.
  • Không có nợ thuế, nợ ngân sách nhà nước quá hạn tại thời điểm nộp hồ sơ.
    Doanh thu của dự án phải hạch toán riêng để được nhận hỗ trợ.
  • Doanh nghiệp phải có doanh thu của doanh nghiệp công nghệ cao, doanh thu của dự án ứng dụng công nghệ cao, của dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao tại năm tài chính đề nghị hỗ trợ.

2. CÁC LOẠI CHI PHÍ ĐƯỢC HỖ TRỢ

Doanh nghiệp đạt tiêu chí có thể được hỗ trợ nhiều loại chi phí như đào tạo, nghiên cứu và phát triển (R&D), đầu tư tài sản cố định hay hạ tầng xã hội – với mức hỗ trợ không vượt quá 50%:

 
STT. Loại chi phí được hỗ trợ Tỷ lệ hỗ trợ tối đa Điều kiện/Đối tượng áp dụng chính
1 Chi phí đào tạo & phát triển nguồn nhân lực 50% chi phí thực tế đã chi Đào tạo người lao động Việt Nam (trong/ngoài nước, dài/ngắn hạn)
2 Chi phí nghiên cứu & phát triển (R&D) Từ 1% đến 30% (mức lũy tiến theo bậc) Tùy theo nhóm doanh nghiệp và tổng chi phí R&D phát sinh
3 Chi phí đầu tư tài sản cố định mới Tối đa 0,5% tổng vốn đầu tư Phải sử dụng cho mục tiêu công nghệ cao trong ≥ 3 năm
4 Chi phí sản xuất sản phẩm công nghệ cao 1% – 3% giá trị sản xuất gia tăng Tùy theo quy mô doanh thu, nhân lực, tỷ lệ nội địa hóa
5 Chi phí đầu tư công trình hạ tầng xã hội Tối đa 25% chi phí thực tế Công trình phục vụ người lao động (nhà ở, nhà trẻ, y tế, văn hóa…)
6 Chi phí đầu tư ban đầu Tối đa 50% chi phí đầu tư Dự án trung tâm R&D trong lĩnh vực bán dẫn hoặc trí tuệ nhân tạo (AI)

3. HỒ SƠ THỰC HIỆN THỦ TỤC HỖ TRỢ CHI PHÍ

Để đăng ký hưởng hỗ trợ đầu tư theo quy định tại Nghị định 182/2024/NĐ-CP, doanh nghiệp cần nộp 08 bộ hồ sơ bao gồm các văn bản sau:

  • Văn bản đề nghị hỗ trợ chi phí.
  • Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ pháp lý: Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư; Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (nếu có); Hoặc tài liệu có giá trị pháp lý tương đương.
  • Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng nhận công nghệ cao: Giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao; Giấy chứng nhận hoạt động ứng dụng công nghệ cao; Giấy chứng nhận thành lập từ dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao; Giấy chứng nhận dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao; Giấy chứng nhận đầu tư trung tâm R&D; Hoặc văn bản xác nhận trước ngày Luật Công nghệ cao có hiệu lực. (Doanh nghiệp trong khu công nghệ cao được miễn nộp mục này.)
  • Báo cáo tình hình thực hiện dự án theo quy định pháp luật về đầu tư.
  • Báo cáo tài chính và tài liệu kiểm toán: Báo cáo tài chính năm đề nghị hỗ trợ (đã kiểm toán); Báo cáo chi phí đề nghị hỗ trợ (đã kiểm toán độc lập); Bảng kê chi tiết các khoản chi kèm hóa đơn, chứng từ hợp pháp.
  • Kết quả kiểm tra định kỳ hoạt động công nghệ cao (nếu có):
  • Nếu chưa có, bổ sung muộn nhất ngày 15/01 năm sau;
  • Miễn nộp nếu đã được xác nhận trước khi Luật Công nghệ cao có hiệu lực.
  • Danh sách người lao động kèm Văn bản xác nhận của cơ quan bảo hiểm về việc tham gia BHXH.
  • Văn bản xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế (bản gốc hoặc bản sao hợp lệ).
  • Văn bản cam kết: Tuân thủ Điều 3 và 4 của Nghị định; Từ bỏ quyền khiếu kiện quốc tế liên quan đến hỗ trợ.
  • Tài liệu khác theo yêu cầu cụ thể từ cơ quan có thẩm quyền (nếu có).

4. TRÌNH TỰ VÀ THỦ TỤC H TRỢ ĐẦU TƯ

Doanh nghiệp muốn đề nghị hỗ trợ chi phí cần nộp hồ sơ trực tiếp tại Cơ quan tiếp nhận[1] hoặc thông qua bưu điện, trước ngày 10/7 của năm kế tiếp năm tài chính được đề nghị hỗ trợ. Sau khi tiếp nhận, trong vòng 5 ngày làm việc, cơ quan có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và nếu cần, yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung. Doanh nghiệp có 10 ngày để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu.

Khi hồ sơ hợp lệ, trong vòng 3 ngày, Cơ quan tiếp nhận sẽ gửi hồ sơ đến các đơn vị chuyên môn để lấy ý kiến. Các đơn vị này sẽ có 15 ngày để phản hồi. Trường hợp cần giải trình thêm, doanh nghiệp sẽ được thông báo và có 30 ngày để bổ sung thông tin, tài liệu cần thiết. Tất cả thông tin được tổng hợp để Cơ quan tiếp nhận lập báo cáo đánh giá về đề nghị hỗ trợ.

Tiếp theo, báo cáo đánh giá của Cơ quan tiếp nhận sẽ được gửi cho UBND cấp tỉnh tổng hợp và trình hồ sơ lên Cơ quan điều hành Quỹ trước ngày 01/10, và sau đó được chuyển đến Hội đồng quản lý Quỹ trước ngày 15/10. Hội đồng sẽ xem xét, đánh giá và trình Chính phủ ra quyết định hỗ trợ trong vòng 15 ngày làm việc.

5. HIỆU LỰC HỒI TỐ

 Trường hợp doanh nghiệp đã có dự án đang triển khai trước thời điểm Nghị định 182/2024/NĐ-CP có hiệu lực mà đáp ứng điều kiện hỗ trợ, thì được quyền nộp hồ sơ đề nghị theo quy trình quy định tại Nghị định để được xem xét hỗ trợ. Việc giám sát, đánh giá hiệu quả hỗ trợ được thực hiện xuyên suốt theo chu kỳ tài chính của dự án và tuân thủ nguyên tắc kiểm toán, công khai, minh bạch.

Với cơ chế hỗ trợ tài chính cụ thể, thủ tục minh bạch và điều kiện rõ ràng, Nghị định 182/2024/NĐ-CP mở ra cơ hội thực tiễn để doanh nghiệp tiếp cận chính sách hỗ trợ của Nhà nước một cách chủ động và hiệu quả. Việc triển khai nghiêm túc và đúng quy định sẽ góp phần tạo nền tảng vững chắc cho hệ sinh thái công nghệ cao tại Việt Nam, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn đầu tư trong khu vực.

[1] Ban Quản lý Khu Kinh tế, Khu công nghiệp, Khu Công nghệ cao (đối với dự án trong Khu Kinh tế, Khu công nghiệp, Khu Công nghệ cao) hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp tỉnh (nay là Sở Tài chính) (đối với dự án ngoài Khu Kinh tế, Khu công nghiệp, Khu Công nghệ cao)

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 3, 2026 – VIỆT NAM BAN HÀNH LUẬT BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN VÀ NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT: NHỮNG NGHĨA VỤ TUÂN THỦ MỚI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Phát hành Tháng 03/2026

Nguyễn Thu Huyền
Luật sư Thành viên

Nguyễn Đức Anh
Trợ lý Luật sư

MỞ ĐẦU

Tiếp nối xu thế toàn cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực này, khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân (“Nghị định 13”), qua đó lần đầu tiên thiết lập một khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam. Trên cơ sở của Nghị định 13, ngày 26/06/2025, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Bảo Vệ Dữ Liệu Cá Nhân (“Luật BVDLCN”). Tiếp theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 356/2025/ND-CP (“Nghị định 356”) ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành của Luật BVDLCN. Luật BVDLCN và Nghị định 356 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Luật BVDLCN được xây dựng trên cơ sở kế thừa gần như toàn bộ các quy định hiện hành của Nghị định 13, đồng thời bổ sung và sửa đổi một số nội dung nhằm điều chỉnh một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Cùng với các quy định của Nghị định 356, khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân của Việt Nam đã và đang đặt ra nhiều thách thức về tuân thủ mới cho doanh nghiệp, đặc biệt là việc bổ sung các chế tài xử phạt mới, việc ban hành các quy định đặc thù cho một số lĩnh vực cụ thể, cũng như các yêu cầu liên quan tới việc bổ nhiệm nhân sự và thiết lập bộ phận chuyên trách về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Dưới đây là những điểm sửa đổi, bổ sung đáng chú ý của Luật BVDLCN và Nghị định 356.

1. CÁC CHẾ TÀI XỬ PHẠT NGHIÊM KHẮC ĐỐI VỚI NHỮNG VI PHẠM VỀ QUY ĐỊNH BẢO VỆ DỮ LIỆU

Luật BVDLCN đã thiết lập cơ chế xử phạt toàn diện đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân. Bên cạnh các khoản phạt tiền đáng kể, cả cá nhân và tổ chức vi phạm đều có thể phải đối mặt với trách nhiệm dân sự và hình sự theo quy định của pháp luật có liên quan khác.

Về xử phạt vi phạm hành chính, hành vi mua, bán trái phép dữ liệu cá nhân có thể bị áp dụng mức phạt lên tới 10 lần khoản lợi bất chính từ hành vi vi phạm, hoặc 3 tỷ đồng, tùy theo mức nào cao hơn. Đối với các vi phạm liên quan đến chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới, mức phạt có thể lên tới 5% doanh thu của năm trước liền kề của bên vi phạm, hoặc 3 tỷ đồng, tùy theo mức nào cao hơn. Các vi phạm khác chịu mức phạt tối đa là 3 tỷ đồng, với các chi tiết cụ thể về mức phạt dự kiến sẽ được Chính phủ ban hành trong các văn bản hướng dẫn tiếp theo.

Một điểm đáng lưu ý đối với các tập đoàn đa quốc gia là Luật BVDLCN hiện chưa làm rõ liệu mức phạt dựa trên doanh thu sẽ được tính trên doanh thu tại Việt Nam hay tổng doanh thu toàn cầu. Sự thiếu rõ ràng này có thể làm gia tăng đáng kể nghĩa vụ tài chính đối với doanh nghiệp trong trường hợp không tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

2. SIẾT CHẶT QUY ĐỊNH VỀ SỰ ĐỒNG Ý CỦA CHỦ THỂ DỮ LIỆU

Luật BVDLCN đặt ra các tiêu chuẩn cao hơn để đảm bảo sự đồng ý của chủ thể dữ liệu là hợp lệ. Cụ thể, sự đồng ý chỉ có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau:

  • Tự nguyện và được thông tin đầy đủ: Sự đồng ý chỉ có giá trị nếu được đưa ra hoàn toàn tự nguyện và chủ thể dữ liệu biết rõ về: (i) loại dữ liệu và mục đích xử lý; (ii) danh tính của Bên Kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân; và (iii) các quyền, nghĩa vụ của mình;
  • Rõ ràng và cụ thể: Sự đồng ý phải được thể hiện một cách minh bạch, cụ thể và có thể in, sao chép dưới dạng văn bản (bao gồm cả định dạng điện tử hoặc các hình thức xác thực kiểm chứng được); và
  • Tách biệt và theo mục đích cụ thể: Sự đồng ý phải tuân thủ 04 nguyên tắc: (i) được đưa ra cụ thể cho từng mục đích xử lý; (ii) không được kèm theo điều kiện bắt buộc phải đồng ý với các mục đích khác với nội dung thỏa thuận; (iii) có hiệu lực cho đến khi bị rút lại hoặc theo quy định pháp luật; và (iv) sự im lặng hoặc không phản hồi không được coi là sự đồng ý.

Ngoài ra, Luật BVDLCN cho phép xử lý dữ liệu mà không cần sự đồng ý trong một số trường hợp đặc biệt như: tình huống khẩn cấp; phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoặc để bảo vệ “quyền hoặc lợi ích chính đáng” của Bên Kiểm soát, Bên Xử lý hoặc Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân trước các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, các trường hợp này buộc phải đi kèm với các cơ chế giám sát chặt chẽ.

Nghị định 356 tiếp tục đặt ra các quy định chặt chẽ hơn rằng Bên Kiểm soát hoặc Bên Kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân có trách nhiệm chứng minh đã có được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu và không được thiết lập phương thức mặc định đồng ý hoặc tạo ra các chỉ dẫn không rõ ràng, gây hiểu lầm giữa đồng ý và không đồng ý.

Nghị định 356 cũng quy định cụ thể một số thời hạn để thực hiện các yêu cầu của chủ thể dữ liệu, bao gồm:

  • Yêu cầu rút lại sự đồng ý hoặc hạn chế xử lý: cần phải phản hồi trong vòng 02 ngày làm việc và hoàn thành việc ngừng xử lý trong thời hạn 15 ngày (có thể kéo dài lên 20 ngày).
  • Yêu cầu xem, chỉnh sửa hoặc cung cấp dữ liệu: cần phải phản hồi trong 02 ngày làm việc và thực hiện trong thời hạn 10 ngày.
  • Yêu cầu xóa dữ liệu: cần phải phản hồi trong 02 ngày làm việc và thực hiện trong thời hạn 20 ngày.

3. CÁC QUY ĐỊNH MỚI ĐẶC THÙ THEO NGÀNH VÀ LOẠI DỮ LIỆU

Luật BVDLCN bổ sung các quy định chuyên biệt áp dụng đối với một số lĩnh vực cụ thể, bao gồm: (i) tuyển dụng, quản lý và giám sát nhân sự, (ii) y tế và bảo hiểm, (iii) tài chính và ngân hàng, (iv) tiếp thị và quảng cáo, (v) mạng xã hội và dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng Internet, và (vi) các công nghệ mới như dữ liệu lớn (big data), trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối (blockchain), vũ trụ ảo (metaverse) và điện toán đám mây. Các quy định chuyên biệt này được đưa ra nhằm bổ trợ và làm rõ các nghĩa vụ chung theo Luật BVDLCN, đồng thời dự kiến sẽ làm gia tăng đáng kể yêu cầu và nghĩa vụ tuân thủ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực nêu trên.

Trong đó, đối với lĩnh vực tuyển dụng, quản lý và giám sát nhân sự, Luật BVDLCN quy định một số nội dung đáng lưu ý như sau:

  • Mục đích cụ thể: Người sử dụng lao động chỉ được phép yêu cầu và xử lý những dữ liệu thực sự cần thiết và phục vụ trực tiếp cho mục đích tuyển dụng.
  • Xóa dữ liệu: Dữ liệu của ứng viên không trúng tuyển phải được xóa hoặc tiêu hủy sau khi kết thúc quá trình tuyển dụng, trừ khi có thỏa thuận khác. Tương tự, khi chấm dứt hợp đồng lao động, dữ liệu của nhân viên phải được xóa hoặc tiêu hủy, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, Luật BVDLCN cũng xác định các loại dữ liệu cá nhân chịu sự quản lý chặt chẽ hơn, bao gồm: (i) dữ liệu của các đối tượng dễ bị tổn thương; (ii) dữ liệu từ các bản ghi công cộng; và (iii) dữ liệu vị trí và dữ liệu sinh trắc học.

4. YÊU CẦU VỀ BỘ PHẬN VÀ NHÂN SỰ BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN

Khác với Nghị định 13 chỉ yêu cầu chỉ định nhân sự trong một số trường hợp hẹp, Luật BVDLCN yêu cầu tất cả các tổ chức xử lý dữ liệu cá nhân phải thực hiện một trong hai phương án: (i) chỉ định nhân sự bảo vệ dữ liệu cá nhân và/hoặc thành lập bộ phận bảo vệ dữ liệu nội bộ và/hoặc; hoặc (ii) thuê một tổ chức hoặc cá nhân bên ngoài cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nghị định 356 đã quy định rõ các tiêu chuẩn năng lực đối với các vị trí này. Cụ thể:

  • Nhân sự bảo vệ dữ liệu cá nhân phải có trình độ từ cao đẳng trở lên; hoàn thành đào tạo chuyên môn về bảo vệ dữ liệu; và có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm làm việc sau khi tốt nghiệp trong các lĩnh pháp chế, công nghệ thông tin, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, quản trị rủi ro, kiểm soát tuân thủ, quản lý nhân sự, hoặc tổ chức cán bộ. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức thành lập bộ phận bảo vệ dữ liệu cá nhân thì các nhân sự trong bộ phận cũng phải đáp ứng các điều kiện nêu trên.
  • Cá nhân cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân phải phải có trình độ từ cao đẳng trở lên; hoàn thành đào tạo chuyên môn về bảo vệ dữ liệu; và có tối thiểu 03 năm kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực nêu trên. Các tổ chức cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân phải có ít nhất 03 nhân sự là cá nhân có đủ năng lực nêu trên.

Ngoài ra, Nghị định 356 cũng quy định rằng tổ chức cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Nghị định, được thể hiện tại giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân do Bộ Công an cấp theo quy trình được quy định trong Nghị định 356.

5. LÀM RÕ CÁC TRƯỜNG HỢP CHUYỂN DỮ LIỆU XUYÊN BIÊN GIỚI

Luật BVDLCN định nghĩa cụ thể các trường hợp được coi là “Chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới”, bao gồm:

  • Chuyển dữ liệu cá nhân đang lưu trữ tại Việt Nam tới hệ thống lưu trữ dữ liệu đặt ngoài lãnh thổ Việt Nam;
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam chuyển dữ liệu cá nhân cho chủ thể ở nước ngoài (cơ quan, tổ chức, và cá nhân); và
  • Các chủ thể trong nước hoặc nước ngoài (cơ quan, tổ chức, và cá nhân) sử dụng nền tảng ở ngoài lãnh thổ Việt Nam để xử lý dữ liệu cá nhân được thu thập tại Việt Nam.

6. YÊU CẦU VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG

Luật BVDLCN yêu cầu doanh nghiệp thực hiện và nộp hồ sơ Đánh giá tác động xử lý dữ liệu (“DPIA”) và Đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới (“TIA”) một lần trong suốt quá trình hoạt động. Tuy nhiên, hồ sơ phải được cập nhật định kỳ (i) 06 tháng một lần nếu có sự thay đổi; hoặc (ii) trong vòng 10 ngày kể từ thời điểm xảy ra các sự kiện: tổ chức lại, chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản, thay đổi về đơn vị cung cấp dịch vụ bảo vệ dữ liệu cá nhân, hoặc bổ sung ngành nghề có liên quan đến xử lý dữ liệu.

Quy định trên không áp dụng đối với: (i) dữ liệu nhân viên lưu trên dịch vụ điện toán đám mây phục vụ quản trị nội bộ; (ii) việc chuyển dữ liệu do chính chủ thể dữ liệu chủ động thực hiện; và (iii) việc chuyển dữ liệu bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

7. QUÁ TRÌNH CHUYỂN TIẾP

Luật BDVLCN đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, với 02 ngoại lệ được áp dụng đối với: (i) doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp không kinh doanh trong lĩnh vực xử lý dữ liệu có thể lựa chọn không thực hiện  một số yêu cầu về đánh giá tác động và chỉ định Bộ phận/Nhân sự bảo vệ dữ liệu trong vòng 05 năm kể từ ngày Luật BVLDCN có hiệu lực trên đây; và (ii) hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ không kinh doanh trong lĩnh vực xử lý dữ liệu, xử lý dữ liệu cá nhân nhạy cảm, hoặc xử lý dữ liệu cá nhân của số lượng lớn chủ thể dữ liệu được miễn hoàn toàn một số nghĩa vụ này.

Nghị định 356 quy định rõ hơn rằng các ngoại lệ nêu trên không được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp (i) xử lý dữ liệu cá nhân nhạy cảm; (ii) kinh doanh dịch vụ xử lý dữ liệu cá nhân; hoặc (iii) có quy mô đạt từ 100.000 chủ thể dữ liệu trở lên “dựa trên kết quả tích lũy tổng lượng dữ liệu cá nhân đã xử lý.”

KẾT LUẬN

Luật BVDLCN và các quy định hướng dẫn của Nghị định 356 đã làm rõ và nâng cao đáng kể các yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân so với khuôn khổ trước đây, qua đó đặt ra những nghĩa vụ tuân thủ mới và nghiêm ngặt hơn đối với doanh nghiệp. Với việc Luật đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, các doanh nghiệp cần tiến hành rà soát hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân, đánh giá mức độ tuân thủ hiện tại và xây dựng lộ trình điều chỉnh phù hợp nhằm hạn chế rủi ro pháp lý và tài chính.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 2, 2026 – LUẬT ĐẦU TƯ 2025 CÓ HIỆU LỰC TỪ 01/03/2026 VỚI MỘT SỐ THAY ĐỔI QUAN TRỌNG NHÀ ĐẦU TƯ VÀ DOANH NGHIỆP CẦN LƯU Ý

Phát hành Tháng 02/2026

Nguyễn H.Nhật Thi
Luật sư Cố vấn

Trịnh Nguyên Hoàng
Trợ lý Luật sư

TÓM TẮT

2020-2025 là giai đoạn địa chính trị thế giới có nhiều biến động, hoạt động đầu tư, các chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, nhiều nhận định cho rằng dòng vốn đầu tư nói chung, đặc biệt là vốn FDI thế hệ mới không còn đặt nặng lợi thế chi phí thấp hay ưu đãi ngắn hạn mà đang chuyển dịch ưu tiên tới những môi trường đầu tư ổn định, hạ tầng chính trị – xã hội – môi trường – công nghệ kết nối đồng bộ, khuyến khích các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Trong bối cảnh đó, dù Luật Đầu tư mới được sửa đổi và ban hành năm 2020[1] cũng như qua 03 lần sửa đổi chính thức (2022, 2024, 2025), yêu cầu đặt ra việc ban hành một Luật đầu tư thống nhất, ổn định, thông thoáng, chi phí tuân thủ thấp, khơi dậy tiềm năng, tạo động lực phát triển và thu hút nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài là vô cùng cần thiết và cấp bách.

Cụ thể hóa nội dung của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/1/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, Nghị quyết 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026, Luật Đầu tư 2025[2] đã được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp lý về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Trong đó, một số điểm mới của Luật Đầu tư 2025 mà nhà đầu tư và doanh nghiệp cần lưu ý bao gồm:

  • Phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư nhiều hơn cho địa phương và xác định rõ các dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư;
  • Mở rộng phạm vi áp dụng của thủ tục đầu tư đặc biệt (áp dụng cơ chế “hậu kiểm” thay cho “tiền kiểm”);
  • Bổ sung quy định nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế trước khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
  • Cắt giảm số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện;
  • Loại bỏ 02 trường hợp nhà đầu tư bắt buộc phải xin điều chỉnh chủ trương đầu tư;
  • Cho phép nhà đầu tư linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư;
  • Đơn giản hoá thủ tục đầu tư ra nước ngoài.

1. PHÂN CẤP THẨM QUYỀN CHẤP THUẬN CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ

Trước đây, Luật Đầu tư 2020 được sửa đổi bổ sung quy định các dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo nhóm dự án thuộc thẩm quyền của từng cơ quan (Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, UBND cấp tỉnh). Luật Đầu tư 2025 quy định rõ ràng và dễ áp dụng hơn theo hướng Điều 24 liệt kê 20 trường hợp các dự án thuộc diện phải chấp thuận chủ trương đầu tư; đồng thời, Điều 25 quy định về thẩm quyền chấp thuận cho các cấp chủ thể lần lượt là Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và Ban quản lý khu công nghiệp/khu chế xuất/khu công nghệ cao/khu kinh tế. Theo đó, điểm cần lưu ý là Luật Đầu tư 2025 đẩy mạnh xu thế phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư. Nội dung này được kỳ vọng sẽ rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục đầu tư cho các dự án đầu tư cũng như giảm tải gánh nặng thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư ở cấp Trung ương.

Cụ thể, Quốc hội chỉ còn giữ lại thẩm quyền chấp thuận các “dự án đầu tư có yêu cầu áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt, khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội.” Toàn bộ các dự án còn lại trước đây thuộc thẩm quyền của Quốc hội tại Luật Đầu tư 2020 như dự án đầu tư ảnh hưởng lớn đến môi trường, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp có diện tích lớn hoặc dự án yêu cầu di dân tái định cư nhiều người, nay được phân cấp cho Thủ tướng Chính phủ.

Trong khi đó, Thủ tướng Chính phủ vẫn tiếp tục nắm giữ thẩm quyền chấp thuận đối với 8 nhóm dự án có tầm ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia, tài nguyên thiên nhiên và những lĩnh vực nhạy cảm, ví dụ như dự án đầu tư kinh doanh đặt cược/casino, dự án nhà máy điện hạt nhân…

Đồng thời, cấp UBND tỉnh[3] được trao thẩm quyền rộng hơn so với Luật Đầu tư 2020 với 13 nhóm dự án đầu tư so với 7 nhóm như trước đây. Cụ thể, nhiều nhóm dự án trước đây thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ như dự án đầu tư chế biến dầu khí, cảng hàng không, sân bay, đường cất hạ cánh của cảng hàng không, nhà ga hành khách của cảng hàng không quốc tế, dự án đầu tư mới kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường hàng không… nay đã được đẩy mạnh phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Bên cạnh việc quy định rõ và phân cấp dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư cũng không còn được quy định trong Luật Đầu tư 2025 mà sẽ được Chính phủ quy định chi tiết. Quy định này nhằm tăng tính ổn định của luật và tính linh hoạt trong điều hành chính sách của Chính phủ.

2. MỞ RỘNG PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA THỦ TỤC ĐẦU TƯ ĐẶC BIỆT

Trước đây, cơ chế này đã được áp dụng trong phạm vi hẹp từ ngày 15/1/2025, khi một trong những điểm sửa đổi bổ sung của Luật Đầu tư 2020[4] là nhà đầu tư được phép lựa chọn đầu tư theo thủ tục đầu tư đặc biệt nếu dự án đầu tư được thực hiện tại một số khu vực như các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu chức năng trong khu kinh tế… và giới hạn trong một số lĩnh vực ưu tiên về đổi mới sáng tạo, công nghệ cao như đầu tư trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp mạch tích hợp bán dẫn, vật liệu bán dẫn, đầu tư xây dựng hạ tầng Big Data và iCloud, 5G….

Từ ngày 1/3/2026, Điều 28 của Luật Đầu tư 2025 đã mở rộng phạm vi áp dụng của thủ tục đầu tư đặc biệt này cho các dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế trong tất cả các ngành nghề đầu tư kinh doanh, trừ trường hợp “dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ”.

Thủ tục này cho phép nhà đầu tư bỏ qua toàn bộ quy trình thẩm định “tiền kiểm” kéo dài trong nhiều tháng bao gồm: chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, đánh giá tác động môi trường, lập quy hoạch chi tiết 1/500, xin giấy phép xây dựng và phê duyệt phòng cháy, chữa cháy và Cơ quan có thẩm quyền sẽ có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các dự án theo quy định pháp luật theo cơ chế “hậu kiểm” cũng như theo hướng dẫn của Chính phủ ở cấp Nghị định.

Đây là một điểm mới quan trọng của Luật Đầu tư 2025 từ góc độ quản lý nhà nước và xây dựng chính sách, theo hướng Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh giảm khâu cấp phép đối với các dự án đầu tư tại các khu vực đã có hạ tầng phát triển đồng bộ và sẽ tập trung vào cơ chế báo cáo, đánh giá, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư.

Đồng thời, với sự thành lập của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (Vietnam International Financial Centre – IFC), thủ tục đầu tư đặc biệt cũng sẽ được ghi nhận áp dụng đối với thiết chế này, đồng bộ với chủ trương của Chính phủ Việt Nam xây dựng đây là điểm đến đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư.

3. CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ TRƯỚC KHI XIN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ

Luật Đầu tư 2025[5] lần đầu tiên ghi nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế và xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“ERC”) trước khi xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“IRC”) nhưng vẫn phải đáp ứng các điều kiện về tiếp cận thị trường.

Thay đổi này có mục đích xử lý điểm nghẽn kéo dài nhiều năm đối với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài: để chuẩn bị hồ sơ xin cấp IRC, nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành ký hợp đồng thuê trụ sở, tuyển dụng nhân sự chủ chốt, mở tài khoản ngân hàng hay bảo lãnh lao động nước ngoài trong giai đoạn chuẩn bị dự án trong tình trạng “không có tư cách pháp nhân”. Việc được cấp ERC trước khi làm thủ tục xin cấp IRC sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài rút ngắn thời gian gia nhập thị trường, giảm chi phí trung gian và tăng tính chủ động, minh bạch, thông thoáng trong tổ chức, đàm phán và triển khai hoạt động đầu tư.

Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này sẽ còn cần chờ văn bản hướng dẫn ở cấp Nghị định, đặc biệt là cần có giải pháp xử lý phù hợp với những trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đã xin được cấp ERC nhưng không xin được IRC.

4. CẮT GIẢM DANH MỤC NGÀNH NGHỀ CÓ ĐIỀU KIỆN

Luật Đầu tư 2025 đã tiếp tục cụ thể hoá chính sách chung về cắt giảm danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện từ 227 ngành xuống còn 198 ngành.

Cụ thể, các ngành nghề như kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, dịch vụ làm thủ tục hải quan, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, hay cho thuê lại lao động, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ trung tâm dữ liệu đã chính thức được đưa ra khỏi danh mục.

Đồng thời, một số các ngành nghề kinh doanh phản ánh nhu cầu phát triển trong thời đại mới như dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon trong nước (cùng với sự ra đời của Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước) hay cung ứng dịch vụ tiền di động (mobile money) đã được bổ sung vào danh sách.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng được giao nhiệm vụ phân loại 198 ngành nghề nói trên và công bố 02 danh mục riêng biệt, bao gồm:[6]

  • Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cần thiết phải cấp phép, chứng nhận trước khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh và;
  • Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải chuyển phương thức quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh để quản lý phương thức hậu kiểm.

Việc công bố danh mục nói trên giúp nhà đầu tư nắm được rõ ngành nghề nào là ngành nghề phải đáp ứng điều kiện/ có “giấy phép con” thì mới được tiến hành hoạt động kinh doanh, và ngành nghề nào mặc dù có điều kiện nhưng có thể tiến hành hoạt động ngay theo phương thức công bố và kiểm soát hậu kiểm.

Lưu ý: Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025 sẽ chỉ có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

5. THU HẸP CÁC TRƯỜNG HỢP ĐIỀU CHỈNH DỰ ÁN

Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, trong một số trường hợp nhà đầu tư điều chỉnh nội dung dự án đầu tư thì cần thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư, cũng như điều chỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, thủ tục này có thể kéo dài, gây gián đoạn hoạt động đầu tư, thậm chí khiến nhà đầu tư lỡ cơ hội kinh doanh hoặc chậm trễ trong áp dụng các công nghệ mới đối với dự án đầu tư, đặc biệt là trong một số tình huống mà việc thay đổi không cần sự can thiệp quản lý của Cơ quan nhà nước.

Điều 33 Luật Đầu tư 2025 đã tháo gỡ vướng mắc này khi bãi bỏ 02 trường hợp bắt buộc phải điều chỉnh chủ trương đầu tư khi điều chỉnh dự án đầu tư, bao gồm:

  • Thay đổi tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư; và
  • Thay đổi công nghệ đã được thẩm định, lấy ý kiến trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư.

Như vậy, sau khi tinh giản, Điều 33 Luật Đầu tư 2025 chỉ còn giữ lại 05 trường hợp bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư. Bao gồm:

  • Thay đổi, bổ sung nội dung, mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư;
  • Thay đổi quy mô diện tích đất sử dụng theo quy định của Chính phủ (trước đây là trên 10% hoặc trên 30ha), thay đổi địa điểm đầu tư;
  • Kéo dài tiến độ thực hiện dự án trong trường hợp điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng theo quy định tại Điều 33.4 của Luật Đầu tư 2025;
  • Điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư; và
  • Thay đổi nhà đầu tư của dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trước khi dự án khai thác, vận hành hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có).

Lưu ý: Mặc dù không cần phải làm thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 2 trường hợp mới bị loại bỏ, nhưng nếu sự thay đổi này làm phát sinh yêu cầu sửa đổi nội dung chính của dự án quy định tại IRC, nhà đầu tư vẫn cần thực hiện thủ tục điều chỉnh IRC để ghi nhận sự thay đổi.

6. LINH HOẠT THỜI HẠN HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Khác với Luật Đầu tư 2020, Luật Đầu tư 2025 cho phép nhà đầu tư chủ động hơn trong việc kiểm soát thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.

Cụ thể, quy định hiện hành của Luật Đầu tư 2020 dẫn tới cách hiểu nhà đầu tư chỉ được tăng thời hạn hoạt động của dự án đầu tư dưới hình thức gia hạn thời hạn hoạt động của dự án khi dự án hết thời hạn hoạt động mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án đầu tư.

Trong khi đó, Luật đầu tư 2025 bên cạnh việc kế thừa quy định nói trên để đảm bảo nhà đầu tư vẫn có quyền xin gia hạn thời hạn hoạt động của dự án khi hết thời hạn, đồng thời còn mở rộng quyền hơn khi cho phép nhà đầu tư “trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư được điều chỉnh tăng hoặc giảm thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.”[7]

Quy định này sẽ tạo cơ chế giúp nhà đầu tư có được sự chắc chắn hơn trong việc dự liệu và quản lý thời hạn thực hiện dự án đầu tư. Theo đó, trong quá trình thực hiện dự án, nhà đầu tư có thể chủ động đề nghị tăng thời hạn hoạt động của dự án so với thời hạn đã được chấp thuận trước đó, thay vì việc phải chờ tới khi kết thúc thời hạn thực hiện dự án mới được thực hiện thủ tục xin phép gia hạn.

Không những vậy, đối với các giao dịch chuyển nhượng dự án, Luật Đầu tư 2025 còn mở ra khả năng xem xét, quyết định tăng thời hạn hoạt động của dự án trên cơ sở nhà đầu tư nhận chuyển nhượng đề xuất trong trường hợp thời hạn hoạt động còn lại của dự án không đáp ứng được phương án tài chính hoặc phương án đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng.[8] Việc đề xuất này được thực hiện cùng với thủ tục chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc cấp, điều chỉnh IRC trong quá trình chuyển nhượng dự án.

7. ĐƠN GIẢN HOÁ THỦ TỤC ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Luật Đầu tư 2025 đã bãi bỏ hoàn toàn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, nhà đầu tư chỉ phải thực hiện thủ tục xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong hai trường hợp: (i) dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ hoặc (ii) dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo Điều 41.1 (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, kinh doanh bất động sản). Đối với dự án quy mô lớn hoặc đề xuất cơ chế, chính sách đặc biệt, Bộ Tài chính phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét trước khi cấp hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Các dự án không thuộc các trường hợp trên không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, mà chỉ cần đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định pháp luật liên quan.

8. MỘT SỐ NỘI DUNG QUAN TRỌNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP MÀ NHÀ ĐẦU TƯ CẦN QUAN TÂM

Theo Điều 52 của Luật Đầu tư 2025, kể từ ngày 1/3/2026 trở đi, một số nội dung điều khoản chuyển tiếp đã được thông qua bao gồm:

Thứ nhất, bảo toàn hiệu lực pháp lý của giấy phép đã cấp.

Toàn bộ Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, IRC, quyết định chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư được cấp trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực tiếp tục có giá trị thi hành theo nội dung đã phê duyệt.

Thứ hai, bảo lưu điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn so với quy định tại Điều 8 Luật Đầu tư 2025 được tiếp tục hưởng điều kiện theo IRC đã cấp, bảo đảm tính ổn định của môi trường đầu tư và tuân thủ các hiệp định đầu tư quốc tế.

Thứ ba, tiếp tục xử lý hồ sơ đang giải quyết theo luật cũ.

Hồ sơ hợp lệ đã tiếp nhận theo quy định của Luật Đầu tư 2020 trước 1/3/2026 thì tiếp tục áp dụng theo quy định của Luật Đầu tư 2020, trừ 02 trường sau đây:

  • Trường hợp dự án đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực thi hành chưa đáp ứng yêu cầu, điều kiện để chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020, Bộ Tài chính chuyển hồ sơ dự án, ý kiến thẩm định và báo cáo thẩm định cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý theo thẩm quyền quy định tại Luật này;
  • Trường hợp dự án chưa được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực thi hành, Bộ Tài chính chuyển hồ sơ dự án và ý kiến thẩm định dự án (nếu có) cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý theo thẩm quyền quy định tại Luật này;

Thứ tư, giấy phép con của các ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã bị bãi bỏ tiếp tục có hiệu lực.

Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư năm 2020 nhưng đã bị bãi bỏ theo quy định của Luật Đầu tư 2025, tổ chức, cá nhân được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc hình thức văn bản cho phép đầu tư, kinh doanh khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp đến hết thời hạn của văn bản, giấy tờ đó.

KẾT LUẬN:

Có thể thấy, Luật Đầu tư 2025 đã có những thay đổi lớn, triệt để từ góc độ cách tiếp cận và tư duy lập pháp theo hướng tiến bộ, đổi mới, hiện đại, phân cấp từ Trung ương xuống địa phương, từ “tiền kiển” tới “hậu kiểm”, từ quy định chi tiết tới chỉ quy định khuôn khổ pháp lý chính… Những sự đổi mới này nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư, tháo gỡ các “điểm nghẽn” do quy định pháp luật, tiến tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, toàn cầu.

Nhà đầu tư và doanh nghiệp cần lưu ý nắm vững những nội dung thay đổi của Luật Đầu tư 2025 đồng thời theo dõi và cập nhật thường xuyên các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan đến nội dung của Luật Đầu tư 2025 để vận dụng được những sự thay đổi này một cách tối đa và hiệu quả.

[1] Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 17/6/2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 (“Luật Đầu tư 2020”).

[2] Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 do Quốc hội ban hành ngày 11/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 (“Luật Đầu tư 2025”).

[3] Luật Đầu tư 2025 thay đổi chủ thể chấp thuận chủ trương đầu tư ở cấp tỉnh từ UBND tỉnh sang Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

[4] Luật số 57/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2025.

[5] Điều 19.2 của Luật Đầu tư 2025.

[6] Điều 7.1 của Luật Đầu tư 2025.

[7] Điều 31.4 Luật Đầu tư 2025.

[8] Điều 52.6 của Luật Đầu tư 2025.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 2, 2025 – DỰ ÁN NHÀ Ở THƯƠNG MẠI ĐƯỢC THỰC HIỆN TRÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP, ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP KHÔNG PHẢI LÀ ĐẤT Ở?

Phát hành tháng 02 năm 2025

Nguyễn Bích Vân
Thành viên

Nguyễn H. Phương Uyên
Luật sư Cộng sự

DẪN NHẬP:

Chiều ngày 30/11/2024, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Nghị quyết số 171/2024/QH15 về việc thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất (“Nghị Quyết 171”).  Nghị Quyết 171 đánh dấu một giai đoạn thí điểm mang tính đột phá tại Việt Nam với những điểm nổi bật như sau:

  • Cơ chế thí điểm linh hoạt: Nghị quyết cho phép triển khai các dự án nhà ở thương mại không chỉ thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất mà còn áp dụng cho các loại đất không thuộc diện đất ở.
  • Thúc đẩy phát triển nhà ở thương mại: Việc tháo gỡ các rào cản pháp lý sẽ kích thích sự phát triển của thị trường bất động sản, đặc biệt trong các khu vực đô thị lớn nơi nhu cầu về nhà ở rất cao;
  • Tăng cường quản lý và minh bạch: Nghị quyết đặt mục tiêu tạo ra một thị trường bất động sản minh bạch và bền vững.
  • Khuyến khích đầu tư: Nghị quyết mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực phát triển nhà ở thương mại một cách dễ dàng hơn.
  • Hỗ trợ giải quyết vấn đề nhà ở: Nghị quyết 171 được kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm nhà ở, đặc biệt cho người có thu nhập thấp và trung bình tại các đô thị lớn.

1. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH

Nghị Quyết 171 thực hiện thí điểm trên phạm vi toàn quốc đối với dự án của tổ chức kinh doanh bất động sản trong các trường hợp sau đây:

  • Dự án nhận quyền sử dụng đất;
  • Dự án đang có quyền sử dụng đất;
  • Dự án đang có quyền sử dụng đất và nhận quyền sử dụng đất;
  • Dự án được các tổ chức đang sử dụng đất thành lập để thực hiện dự án nhà ở thương mại trên diện tích của cơ sở sản xuất kinh doanh phải di dời do ô nhiễm môi trường hoặc phải di dời theo quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị.

Trên cơ sở kế thừa và đảm bảo tính nhất quán với Luật Đất Đai, các dự án nhà ở thương mại của tổ chức kinh doanh bất động sản (i) nhận quyền sử dụng đất ở hoặc (ii) đang có quyền sử dụng đất ở hoặc đất ở và đất khác sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị Quyết 171 mà sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh và được thực hiện theo quy định Luật Đất Đai hiện hành.

Việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án thí điểm được thực hiện thông qua việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp trong phạm vi khu đất, thửa đất thực hiện thí điểm có diện tích đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý nhưng không tách được thành dự án độc lập thì diện tích đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý được đưa vào tổng diện tích đất để lập dự án và được Nhà nước thu hồi để giao, cho thuê cho nhà đầu tư thực hiện dự án không phải thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, không phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất.

2. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

Nghị Quyết 171 áp dụng với 03 nhóm đối tượng chính là (i) cơ quan nhà nước, (ii) tổ chức kinh doanh bất động sản và (iii) người sử dụng đất.  Theo đó, các đối tượng áp dụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tương ứng của mình theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN DỰ ÁN THÍ ĐIỂM

Điều kiện về khu đất, thửa đất:

  • Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị;
  • Phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương đã được phê duyệt;
  • Thuộc danh mục các khu đất dự kiến thực hiện dự án thí điểm do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua.

Điều kiện về chủ thể thực hiện dự án (tổ chức kinh doanh bất động sản):

  • Đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án thí điểm đối với trường hợp quy định tại điểm (a) và điểm (c) Mục 1 nêu trên hoặc có văn bản chấp thuận của Bộ Quốc phòng đối với đất quốc phòng, Bộ Công an đối với đất an ninh.

Điều kiện về loại đất:

  • Đất nông nghiệp;
  • Đất phi nông nghiệp không phải đất ở;
  • Đất ở và đất khác trong cùng thửa đất đối với trường hợp thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất;
  • Đất quốc phòng, đất an ninh đã được quy hoạch đưa ra khỏi đất quốc phòng, đất an ninh.

4. TIÊU CHÍ LỰA CHỌN DỰ ÁN THÍ ĐIỂM

  • Được thực hiện tại khu vực đô thị hoặc khu vực được quy hoạch phát triển đô thị;
  • Tổng diện tích đất ở trong các dự án thí điểm (bao gồm đất ở hiện hữu và đất dự kiến chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở) không vượt quá 30% của phần diện tích đất ở tăng thêm trong kỳ quy hoạch (so với hiện trạng sử dụng đất ở) theo phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai trong quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030 đã được phê duyệt;
  • Không thuộc các dự án quy định tại khoản 4 Điều 67 của Luật Đất đai;
  • Đối với trường hợp quy định tại điểm (a) Mục 1 nêu trên, khu đất thực hiện dự án thí điểm phải không thuộc danh mục công trình, dự án phải thu hồi đất được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua theo quy định tại khoản 5 Điều 72 của Luật Đất đai.

5. HIỆU LỰC VÀ THI HÀNH

Nghị Quyết 171 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 và được thực hiện trong 05 năm. Khi Nghị Quyết 171 hết hiệu lực, tổ chức kinh doanh bất động sản đang thực hiện dự án thí điểm theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư được tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc dự án. Người nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong dự án thí điểm có quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật.

KẾT LUẬN:

Nghị Quyết 171 là một bước tiến đột phá trong việc cải cách và nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực bất động sản tại Việt Nam, mở ra cơ hội mới cho các dự án nhà ở thương mại mà vẫn giữ được tính nhất quán với các quy định pháp luật về đất đai, đảm bảo tính công bằng trong quá trình tiếp cận dự án của các bên tham gia. Đồng thời, Nghị Quyết 171 tạo ra nền tảng cho sự ổn định về nguồn cung nhà ở thương mại và góp phần phát triển thị trường bất động sản minh bạch, lành mạnh và bền vững.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 12, 2024 – ĐỔI MỚI PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG: LUẬT NĂM 2023 VÀ NGHỊ ĐỊNH 55/2024/NĐ-CP

Phát hành Tháng 12/2024

Trần Công Quốc
Luật sư Thành viên

Nguyễn Ngọc Ly
Luật sư Cộng sự Cấp cao

Người tiêu dùng luôn là nhóm đối tượng quan trọng và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ quốc gia nào. Quyền lợi của người tiêu dùng nên được ưu tiên bảo vệ bởi đây là nguồn lực và động lực chính cho sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, người tiêu dùng thường gặp phải bất lợi trong các giao dịch hàng hóa, dịch vụ với các tổ chức, cá nhân kinh doanh do thiếu thông tin hoặc những hạn chế về khả năng lựa chọn. Tình trạng này dẫn đến sự mất cân bằng quyền lợi, làm tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng. Vì vậy, pháp luật nên có sự điều chỉnh và Nhà nước cần giám sát để đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa người tiêu dùng và các tổ chức, cá nhân kinh doanh, từ đó giúp người tiêu dùng được đối xử công bằng, có quyền truy cập thông tin chính xác và được bảo vệ khỏi những hành vi kinh doanh bất hợp pháp.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sửa đổi đã được Quốc hội khóa XV thông qua vào ngày 20/6/2023 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 (“Luật năm 2023”), thay thế cho Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 (“Luật năm 2010”). Việc sửa đổi này được thực hiện nhằm bắt kịp xu hướng toàn cầu và tuân theo các quy định pháp lý quốc tế, giúp cập nhật và hoàn thiện các quy định trong Luật, bao gồm 7 chương và 80 điều, phù hợp với xu hướng tiêu dùng và kinh doanh hiện đại. Đồng thời, Nghị định 55/2024/NĐ-CP, ban hành vào ngày 16/5/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 (“Nghị định 55”), thay thế Nghị định 99/2011/NĐ-CP, tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong môi trường số, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương và tổ chức Ngày Quyền của Người tiêu dùng Việt Nam. Mục tiêu của việc sửa đổi này là để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tốt hơn trong bối cảnh Việt Nam có thị trường tiêu dùng lớn và đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt trong Cách mạng Công nghiệp 4.0. (4IR) với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ như AI, blockchain và Internet Vạn Vật (IoT).

A. CÁC ĐIỂM MỚI NỔI BẬT

1.Quy định chung

a. Đối tượng áp dụng

Luật năm 2023 đã mở rộng đối tượng áp dụng (Điều 2), bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức xã hội. Đặc biệt, đối với các giao dịch xuyên biên giới và giao dịch trực tuyến, Luật cũng áp dụng cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân nước ngoài có liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Định nghĩa “người tiêu dùng” trong Luật năm 2023 (Điều 3.1) bổ sung cụm từ “không vì mục đích thương mại” để nhấn mạnh rằng chỉ tập trung vào việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, Luật năm 2023 vẫn giữ thuật ngữ “người” để định nghĩa người tiêu dùng, điều này dẫn đến sự không rõ ràng liệu tổ chức hay hộ gia đình có thể được coi là người tiêu dùng hay không.

b. Người có ảnh hưởng (influencers)

Luật năm 2023 đưa ra các định nghĩa mới về “người có ảnh hưởng” (Điều 3.9). Khái niệm này được làm rõ tại Điều 2.1 Nghị định 55. Người có ảnh hưởng được hiểu là chuyên gia, cá nhân có uy tín, hoặc người được xã hội chú ý trong một lĩnh vực cụ thể, được các tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh tài trợ để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, hoặc khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hoặc khuyến khích tiêu dùng. Các trường hợp cụ thể bao gồm: (i) người có chuyên môn hoặc kinh nghiệm, được công nhận bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong lĩnh vực, ngành nghề cụ thể; (ii) người tiêu biểu hoặc có uy tín có đóng góp nổi bật và được xã hội ghi nhận, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận; và/hoặc (iii) người được xã hội chú ý hoặc có lượng theo dõi lớn đặc biệt trên các phương tiện truyền thông hoặc nền tảng số, đáp ứng các điều kiện tham gia quảng cáo hoặc kinh doanh trực tuyến. Quy định này nhằm minh bạch hóa vai trò của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong môi trường kinh doanh hiện đại.

Ngoài ra, theo Điều 22 của Luật năm 2023, người có ảnh hưởng có các nghĩa vụ sau:

  • Cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng và yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp tài liệu chứng minh tính chính xác của thông tin thông qua mình.
  • Chịu trách nhiệm liên đới nếu cung cấp thông tin sai lệch hoặc không đầy đủ, trừ khi có bằng chứng chứng minh đã thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm tra tính chính xác của thông tin.
  • Thông báo trước cho người tiêu dùng về việc mình được tài trợ để cung cấp thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

c. Người tiêu dùng dễ bị tổn thương

Khái niệm “người tiêu dùng dễ bị tổn thương” được học hỏi và lấy cảm hứng từ các hệ thống pháp lý của các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia phát triển và các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nơi đã thiết lập các tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các luật và quy định của họ. Khái niệm này được định nghĩa tại Điều 8.1 nhằm bảo vệ 07 nhóm đối tượng người tiêu dùng có khả năng gặp bất lợi trong giao dịch tiêu dùng, như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ mang thai, hoặc các nhóm dân cư sống ở khu vực xa xôi, khó khăn v.v. Đồng thời, Điều 8 yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong quá trình giao dịch, đảm bảo quyền khiếu nại và giải quyết tranh chấp. Thương nhân phải tiếp nhận và xử lý các yêu cầu bảo vệ từ nhóm này, không được chuyển cho bên thứ ba trừ khi bên thứ ba có trách nhiệm liên quan.

Nếu chậm trễ, từ chối ưu tiên hoặc không chấp nhận yêu cầu, thương nhân phải bồi thường cho người tiêu dùng dễ bị tổn thương theo pháp luật dân sự (Điều 8.2). Thương nhân cũng phải xây dựng và công khai quy trình bảo vệ quyền lợi cho nhóm này, đảm bảo quyền khiếu nại, giải quyết tranh chấp, và thông báo công khai tại trụ sở, địa điểm kinh doanh hoặc trên trang web, ứng dụng (Điều 8.3).

d. Giao dịch đặc thù

So với Luật năm 2010, Luật năm 2023 đã giải thích cụ thể các giao dịch đặc thù (Điều 3.8) nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh 4IR, bao gồm:

  • Giao dịch từ xa: giao dịch qua mạng, phương tiện điện tử hoặc phương tiện khác, trong đó người tiêu dùng không thể kiểm tra trực tiếp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trước khi giao dịch (Điều 3.5);
  • Cung cấp dịch vụ liên tục: cung cấp dịch vụ có thời hạn từ 03 tháng trở lên hoặc không xác định thời hạn như viễn thông, internet, truyền hình cáp v.v. (Điều 3.6);
  • Bán hàng trực tiếp: tổ chức, cá nhân kinh doanh chủ động tiếp cận người tiêu dùng để giới thiệu và bán sản phẩm, dịch vụ thông qua các hình thức: (i) Bán hàng tận cửa: bán sản phẩm, dịch vụ tại nơi ở hoặc làm việc của người tiêu dùng; (ii)Bán hàng đa cấp: bán hàng qua mạng lưới cá nhân với nhiều cấp, nơi người tham gia nhận hoa hồng từ bán hàng của mình và của người khác trong mạng lưới; và (iii) Bán hàng không tại địa điểm giao dịch thường xuyên: bán sản phẩm, dịch vụ tại các địa điểm không phải là cửa hàng bán lẻ cố định (Điều 3.7).

Luật năm 2010, thông qua Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 (“Nghị định 99”) đã từng đưa ra các khái niệm về “Hợp đồng giao kết từ xa”, “Hợp đồng cung cấp dịch vụ liên tục” hay “Bán hàng tận cửa” (Điều 3 Nghị định 99). Tuy nhiên về cơ bản, hệ thống luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũ chỉ tập trung vào các giao dịch truyền thống. Trong khi đó, Luật năm 2023 đã bắt kịp xu thế bằng việc chú trọng đến các giao dịch từ xa và các dịch vụ trực tuyến, đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thời đại số, giúp giảm thiểu rủi ro cho người tiêu dùng khi tham gia vào các giao dịch mà họ không thể kiểm tra trực tiếp sản phẩm hoặc dịch vụ.

e. Hành vi bị nghiêm cấm

Điều 10 Luật năm 2023 đã chi tiết và toàn diện hóa danh mục các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể là bổ sung các hành vi sau đây:

  • Không đền bù, hoàn tiền hoặc đổi lại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng do nhầm lẫn của tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc khi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không đúng với thông tin đã đăng ký, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu hoặc cam kết.
  • Đánh tráo, gian lận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng.
  • Không thông báo trước việc tài trợ cho người có ảnh hưởng để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, khuyến nghị nhằm xúc tiến thương mại hoặc khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm, dịch vụ.
  • Ngăn cản người tiêu dùng kiểm tra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • Yêu cầu người tiêu dùng phải mua thêm sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như là điều kiện bắt buộc để giao kết hợp đồng trái với ý muốn của người tiêu dùng.
  • Quy định điều khoản không hợp pháp trong hợp đồng với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.
  • Thu thập, lưu trữ, sử dụng, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ thông tin của người tiêu dùng trái quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Luật năm 2023 còn liệt kê bổ sung các nhóm hành vi bị nghiêm cấm có tính chất đặc thù đối với hình thức bán hàng đa cấp và đối với hoạt động kinh doanh thiết lập, vận hành, cung cấp dịch vụ nền tảng số, cụ thể như sau:

  • Bán hàng đa cấp (Điều 10.2): yêu cầu đặt cọc hoặc mua hàng hóa để tham gia bán hàng đa cấp; cung cấp thông tin gian dối; kinh doanh không có giấy chứng nhận; bán hàng đa cấp đối với dịch vụ hoặc hình thức không phải là mua bán hàng hóa; phát triển mạng lưới không dựa trên giao dịch mua bán hàng hóa. Trong đó, một số hành vi được đề cập tương tự theo Nghị định 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp (“Nghị định 40”);
  • Nền tảng số (Điều 10.3): ép buộc hoặc ngăn cản người tiêu dùng sử dụng nền tảng trung gian khác để như là điều kiện bắt buộc để sử dụng dịch vụ; hạn chế quyền lựa chọn sản phẩm mà không công khai tiêu chí lựa chọn; hiển thị không trung thực các phản hồi, đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ; ngăn cản đăng ký hoặc hiển thị phản hồi của tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; ngăn cản gỡ bỏ phần mềm hoặc yêu cầu cài đặt phần mềm không cần thiết.

2. Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng

Luật năm 2023 đã củng cố, nâng cao vai trò của người tiêu dùng trong bối cảnh tiêu dùng hiện đại, đồng thời đảm bảo cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của họ. Các quyền mới bao gồm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, bảo vệ thông tin (Điều 4.1), quyền lựa chọn môi trường tiêu dùng lành mạnh và bền vững (Điều 4.9) và quyền được bảo vệ khi sử dụng dịch vụ công theo quy định của pháp luật (Điều 4.10). Bên cạnh đó, Điều 5 bổ sung các nghĩa vụ của người tiêu dùng bao gồm tuân thủ điều kiện, hướng dẫn vận chuyển, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; quy định về kiểm định, bảo vệ môi trường, tiêu dùng bền vững (Điều 5.3) và nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh (Điều 5.5) và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

3. Giao dịch đặc thù

a. Giao dịch từ xa

Khái niệm “giao dịch trên không gian mạng” được đề cập tại “giao dịch từ xa”, trong đó tổ chức, cá nhân kinh doanh trên không gian mạng bao gồm (Điều 39.1 Luật năm 2023):

  • Tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ qua hệ thống thông tin do mình thiết lập hoặc qua nền tảng số;
  • Tổ chức thiết lập, vận hành nền tảng số trung gian.

Mặc dù Luật năm 2023 không định nghĩa “nền tảng số” hoặc “nền tảng số trung gian”, tuy nhiên Luật này tiếp tục đưa ra các quy định liên quan đến các tổ chức, cá nhân kinh doanh, thiết lập, vận hành cung cấp “nền tảng số”, bao gồm liệt kê các hành vi bị cấm (Điều 10.1, Điều 10.3), trách nhiệm đối với người tiêu dùng (Điều 38, Điều 39 Luật năm 2023; Điều 22, Điều 23 Nghị định 55). Ngoài ra, sau này, Nghị định 55 đã bổ sung khái niệm về “nền tảng số lớn” là nền tảng phục vụ giao dịch điện tử đáp ứng một trong các tiêu chí sau (i) có từ 3 triệu tài khoản người dùng hoạt động hàng năm tại Việt Nam và tổ chức, cá nhân kinh doanh phải tự xác định số lượng tài khoản người sử dụng trên nền tảng của mình; (ii) là nền tảng số trung gian quy mô lớn, rất lớn phục vụ giao dịch điện tử.

b. Cung cấp dịch vụ liên tục

Tại Mục 2 Chương III Luật năm 2023, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục và hình thức hợp đồng của loại hình dịch vụ này được quy định lần lượt tại Điều 41 và 42 Luật năm 2023, trong đó nổi bật là:

  • Tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục tại Việt Nam phải công khai thông tin về đại diện pháp lý tại Việt Nam. Nếu không có đại diện pháp lý, họ phải chỉ định một đại diện ủy quyền và công khai thông tin của đại diện này. Đại diện phải thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, quy định này có thể không rõ ràng trong việc thực thi quy định và tạo ra khó khăn cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khi áp dụng thực tế, cụ thể trong các trường hợp như: áp dụng cho tổ chức có hiện diện thương mại hay tổ chức nước ngoài?; vai trò của đại diện ủy quyền (nhân viên của tổ chức hay chỉ định qua hợp đồng ủy quyền?)v.
  • Tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ liên tục, theo hợp đồng, phải thông báo cho người tiêu dùng về (i) việc nộp phí để tiếp tục sử dụng dịch vụ, tối thiểu 07 ngày làm việc trước khi hết hạn sử dụng dịch vụ; (ii) Thời điểm kết thúc hợp đồng, tối thiểu 07 ngày làm việc trước khi hợp đồng kết thúc.

c. Bán hàng trực tiếp

  i, Bán hàng đa cấp

Luật năm 2023 đưa ra định nghĩa về “bán hàng đa cấp” thuộc loại hình “bán hàng trực tiếp” (Điều 3.7.b) và các nghĩa vụ đối với các tổ chức, cá nhân bán hàng đa cấp. Tuy nhiên, ngoại trừ một số nghĩa vụ mới được quy định tại Điều 45, Luật năm 2023 này cơ bản quy định tương tự như trong Nghị định 40 hiện đang còn hiệu lực. Tuy nhiên, do Luật năm 2023 áp dụng đối với các nhà bán hàng đa cấp trong quan hệ với người tiêu dùng thay vì tất cả các nhà bán hàng đa cấp theo Nghị định 40 nên có khả năng dẫn đến chồng chéo về nghĩa vụ của các nhà bán hàng đa cấp.

  ii, Bán hàng không tại địa điểm giao dịch thường xuyên

Luật năm 2023 quy định khái niệm mới về “bán hàng không tại địa điểm giao dịch thường xuyên” (Điều 3.7.c), bao gồm việc giới thiệu và bán sản phẩm, hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tại các địa điểm không phải là địa điểm cố định, nơi mà sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ được bán hoặc cung cấp thường xuyên.

Theo Điều 47, các tổ chức, cá nhân kinh doanh tại địa điểm không cố định, khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với tổng giá trị trên 10 triệu đồng, phải tuân thủ:

  • Thông báo với UBND cấp xã: Cung cấp thông tin chi tiết về tổ chức bán hàng với cách thức, hồ sơ và trách nhiệm của UBND được hướng dẫn tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định 55. Mẫu thông báo và mẫu sửa đổi, bổ sung tại Phụ lục 10 và 11 của Nghị định 55.
  • Niêm yết thông tin công khai tại địa điểm bán.
  • Duy trì thông tin liên hệ để giải quyết phản ánh và khiếu nại trong và sau bán hàng.
  • Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về sản phẩm, dịch vụ và tổ chức kinh doanh.
  • Nhận lại hàng hóa, dịch vụ trong vòng 30 ngày nếu còn nguyên tem, nhãn mác, bao bì, và trong hạn sử dụng.
  • Cung cấp hóa đơn, chứng từ cho giao dịch mua bán.
  • Hợp đồng bằng văn bản phải được gửi cho người tiêu dùng, cho phép người tiêu dùng có 03 ngày làm việc để thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng và thông báo lại; trong thời gian này không được yêu cầu người tiêu dùng đặt cọc, thanh toán hoặc thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

4. Phương thức giải quyết tranh chấp

Luật năm 2023 duy trì bốn phương thức giải quyết tranh chấp bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và tố tụng tại tòa án giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh.

a. Thương lượng

Về phương thức thương lượng, Luật năm 2023 bổ sung quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước hoặc tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hỗ trợ thương lượng khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm (Điều 56.3). Quy định bổ sung này nhằm cải thiện phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh. Ngoài ra, Luật năm 2023 còn quy định rõ hơn về hình thức thương lượng, cho phép thực hiện trực tuyến phù hợp với xu hướng công nghệ hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm thời gian cho các bên liên quan (Điều 54.3); bổ sung quy định chi tiết về thủ tục, thời hạn, và các trách nhiệm của các bên trong thương lượng, nhằm giảm thiểu sự tùy tiện và nâng cao trách nhiệm (Điều 57) và quyền và trách nhiệm của các bên trong thương lượng (Điều 59).

 b. Hòa giải

 Luật năm 2023 không đưa ra khái niệm “hòa giải” như trong Luật năm 2010 mà thay vào đó áp dụng quy định từ các luật khác, như Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Nghị định về hòa giải thương mại. Luật năm 2023 bổ sung thêm một trường hợp không được hòa giải là vi phạm điều cấm của luật hoặc đạo đức xã hội (Điều 54.2). Hòa giải viên phải đáp ứng các điều kiện về năng lực, phẩm chất đạo đức và kỹ năng hòa giải; đặc biệt, đối với các tranh chấp có yếu tố dân tộc thiểu số, phải có hòa giải viên phù hợp (Điều 64). Luật năm 2023 yêu cầu lập văn bản ghi nhận kết quả hòa giải thành và quy định các nội dung chi tiết của văn bản này. Nếu không đạt kết quả hòa giải thành, không cần lập văn bản (Điều 65); đồng thời có cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành và trách nhiệm thực hiện trong thời hạn đã thỏa thuận (Điều 66). Nhìn chung, những sửa đổi trong Luật năm 2023 làm rõ hơn các quy định về hòa giải, nâng cao hiệu quả và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia.

c. Tòa án

Đối với phương thức giải quyết tại tòa, Luật năm 2023 đã hoàn thiện quy định về thủ tục rút gọn áp dụng cho các vụ án dân sự liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể, các vụ án có giá trị giao dịch dưới 100 triệu VND (khoảng 4,000 USD) (Điều 70.2) sẽ được giải quyết theo thủ tục rút gọn mà không cần phải đáp ứng các điều kiện theo Điều 317.1 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tiền bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích công cộng, nếu không xác định được đối tượng thụ hưởng, sẽ được sử dụng cho các hoạt động chung vì quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Chính phủ hoặc nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 73.2 Luật năm 2023). Nếu tổ chức xã hội tham gia khởi kiện ở phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trở lên, tiền bồi thường sẽ nộp vào ngân sách trung ương; nếu chỉ ở một tỉnh, thành phố, tiền bồi thường sẽ nộp vào ngân sách địa phương (Điều 28 Nghị định 55). Các điều chỉnh này đã góp phần củng cố vai trò của các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời tạo cơ chế công bằng và minh bạch trong việc sử dụng tiền bồi thường thiệt hại.

 B. KẾT LUẬN

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 và Nghị định số 55/2023/NĐ-CP đã thể hiện bước đổi mới quan trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam. Được ban hành trong bối cảnh 4IR với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và các giao dịch điện tử đã tác động sâu rộng đến quyền lợi người tiêu dùng, hai văn bản này đã ghi nhận nhiều điểm tiến bộ so với các quy định trước đây.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đã mở rộng phạm vi bảo vệ, đặc biệt là quyền lợi của người tiêu dùng trong các giao dịch trực tuyến và thương mại điện tử trong khi các quy định trước chủ yếu tập trung vào giao dịch truyền thống. Luật năm 2023 đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ và bảo đảm chất lượng, an toàn cho người tiêu dùng; tăng cường vai trò của các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, góp phần tạo dựng niềm tin để họ có điều kiện tiếp cận với sự trợ giúp pháp lý khi quyền lợi bị xâm phạm. Luật năm 2023 yêu cầu các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc hàng hóa phải bảo đảm tính minh bạch trong thông tin, đồng thời có trách nhiệm trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng, tránh các hành vi xâm phạm quyền riêng tư, bắt kịp xu hướng bảo mật thông tin trong một thế giới số hóa ngày một phát triển.

Bên cạnh đó, Nghị định số 55/2023/NĐ-CP đã bổ sung các cơ chế thực thi và điều chỉnh chi tiết các vấn đề như giải quyết khiếu nại, tranh chấp và các biện pháp xử lý vi phạm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nghị định này đã làm rõ hơn các quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ và giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng cũng như quy định liên quan đến việc giải quyết khiếu nại và tranh chấp trong các giao dịch trực tuyến.

Tổng thể, việc nâng cấp hệ thống luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong năm 2023 đã thể hiện sự đồng hành của pháp luật với sự phát triển của nền kinh tế số, là bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phù hợp với các thay đổi mạnh mẽ trong kỷ nguyên 4IR.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 08, 2024 – LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ 2023

Phát hành 08/ 2024

Lê Hồng Phong
Luật sư Thành viên

Nguyễn Hoàng Quân
Luật sư Cộng sự Cấp cao

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, các giao dịch điện tử ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng. Điều này đòi hỏi cần có một hành lang pháp lý chặt chẽ nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia giao dịch điện tử. Chính vì thế, Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 đã được ban hành ngày 23 tháng 06 năm 2023 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07 năm 2024 với nhiều quy định mới và điều chỉnh quan trọng không chỉ mở rộng khung pháp lý hiện hành mà còn tạo điều kiện thuận lợi và an toàn hơn cho các bên tham gia vào các giao dịch điện tử. Với việc chú trọng đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, xác thực và chữ ký điện tử, cũng như các quy định chi tiết về hợp đồng điện tử, luật mới hứa hẹn sẽ mang lại nhiều thay đổi tích cực. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng điểm qua những thay đổi đáng chú ý của Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 cùng những tác động và lưu ý pháp lý đối với doanh nghiệp và cá nhân.

A. CÁC ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ NĂM 2023

1. Chữ ký điện tử

Một trong những điểm nhấn của Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 là quy định về chữ ký điện tử. Để đảm bảo tính pháp lý và bảo mật, chữ ký điện tử phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định như: tiêu chuẩn an ninh, tiêu chuẩn xác thực, tiêu chuẩn về khả năng truy vết và tiêu chuẩn về tính pháp lý của chữ ký điện tử. So với các quy định trước đây, những điểm mới này đã góp phần nâng cao tiêu chuẩn an ninh khi đưa ra yêu cầu rõ ràng về việc sử dụng xác thực hai yếu tố và các thuật toán mã hóa mạnh, tăng cường bảo mật cho chữ ký điện tử. Quy định này cũng góp phần giúp cho việc xác thực danh tính nghiêm ngặt hơn khi yêu cầu chữ ký điện tử phải được xác thực bởi các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực đã được cấp phép, với quy trình xác thực danh tính nghiêm ngặt. Đồng thời, quy định tại Luật Giao dịch điện tử năm 2023 cũng tạo ra khả năng truy vết tốt hơn của chữ ký điện tử khi hệ thống ký điện tử theo quy định mới phải có khả năng ghi nhận và lưu trữ lịch sử các lần ký kết, đảm bảo tính minh bạch và khả năng kiểm tra lại. Cuối cùng, quy định mới khẳng định rõ ràng chữ ký điện tử có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký tay, được chấp nhận làm chứng cứ trước tòa án. Cùng với các quy định mới liên quan tới chữ ký điện tử, Luật Giao dịch điện tử cũng quy định rõ các tổ chức cung cấp dịch vụ chữ ký điện tử phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, và chữ ký điện tử phải được xác thực bởi các tổ chức này để có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký tay.

2. Bảo vệ Dữ liệu và Quyền riêng tư

a. Quản lý dữ liệu

Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 đặt ra các quy định nghiêm ngặt về việc thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu cá nhân nhằm bảo vệ quyền riêng tư của người dùng:

  • Thu Thập Dữ Liệu: Các tổ chức, doanh nghiệp chỉ được thu thập dữ liệu cá nhân khi có sự đồng ý rõ ràng của người dùng, trừ những trường hợp pháp luật cho phép.
  • Lưu Trữ Dữ Liệu: Dữ liệu cá nhân phải được lưu trữ một cách an toàn, sử dụng các biện pháp mã hóa và bảo mật để ngăn chặn truy cập trái phép, mất mát hoặc rò rỉ dữ liệu.
  • Xử Lý Dữ Liệu: Việc xử lý dữ liệu cá nhân phải tuân thủ các nguyên tắc bảo mật và chỉ được thực hiện cho các mục đích đã được người dùng chấp thuận.

b. Quyền của Người Dùng

Người dùng có quyền truy cập, chỉnh sửa và yêu cầu xóa bỏ dữ liệu cá nhân của mình. Các doanh nghiệp phải cung cấp cơ chế rõ ràng và thuận tiện để người dùng thực hiện các quyền này, đảm bảo rằng dữ liệu cá nhân được quản lý và bảo vệ một cách chặt chẽ.

3. Hợp Đồng Điện Tử

Các quy định về hợp đồng điện tử đã có từ Luật Giao dịch điện tử 2005, tuy nhiên, việc giao kết hợp đồng điện tử hiện nay vẫn còn khá hạn chế. Điều này một phần xuất phát từ việc thiếu các quy định cụ thể để hướng dẫn việc giao kết hợp đồng điện tử. Không những vậy, việc giao kết hợp đồng điện tử trước đây do các bên thỏa thuận và rất khó để bảo đảm tính toàn vẹn của hợp đồng mà các bên đã giao kết. So với các quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 tập trung thiết lập cơ sở pháp lý cho việc công nhận hợp đồng điện tử có giá trị tương đương với hợp đồng giấy, bao gồm các quy định về nội dung và hình thức hợp đồng, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 mở rộng và chi tiết hóa các quy định về hợp đồng điện tử, bao gồm các yêu cầu về ghi nhận và lưu trữ lịch sử giao dịch, bảo vệ tính toàn vẹn dữ liệu và cơ chế giải quyết tranh chấp.

a. Hình Thức và Nội Dung

Hợp đồng điện tử phải được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung tương tự như hợp đồng giấy truyền thống. Điều này bao gồm các điều khoản cơ bản, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như các điều khoản về giải quyết tranh chấp.

b. Chứng Cứ Pháp Lý

Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý tương đương với hợp đồng giấy và có thể được sử dụng làm chứng cứ trước tòa án. Điều này yêu cầu các bên phải tuân thủ quy trình ký kết và lưu trữ hợp đồng điện tử một cách chặt chẽ để đảm bảo tính pháp lý.

Chứng Cứ Pháp Lý: Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý tương đương với hợp đồng giấy và có thể được sử dụng làm chứng cứ trước tòa án. Điều này yêu cầu các bên phải tuân thủ quy trình ký kết và lưu trữ hợp đồng điện tử một cách chặt chẽ để đảm bảo tính pháp lý.

B. TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ VÀ CÁC ĐIỂM PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý DÀNH CHO CÁ NHÂN VÀ TỔ CHỨC

Khi Luật Giao dịch điện tử năm 2023 có hiệu lực cùng với bối cảnh nền kinh tế số ngày càng phát triển, các doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào các giải pháp công nghệ bảo mật, bao gồm hệ thống xác thực hai yếu tố, mã hóa dữ liệu và hệ thống quản lý chữ ký điện tử. Việc này không chỉ giúp tuân thủ các quy định pháp luật mà còn bảo vệ doanh nghiệp khỏi các rủi ro về an ninh mạng. Đồng thời, doanh nghiệp cần xây dựng và duy trì các chính sách bảo vệ dữ liệu, đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo mật và quyền riêng tư của khách hàng. Điều này bao gồm việc đào tạo nhân viên về các quy định mới và các biện pháp bảo mật cần thiết.

Đối với các cá nhân, mọi người cần nâng cao nhận thức về việc bảo vệ thông tin cá nhân trực tuyến. Điều này bao gồm việc sử dụng các biện pháp bảo mật như xác thực hai yếu tố, không chia sẻ thông tin cá nhân qua các kênh không an toàn và thường xuyên kiểm tra các quyền truy cập vào dữ liệu cá nhân của mình. Người dùng cần hiểu rõ quyền của mình trong việc truy cập, chỉnh sửa và xóa bỏ dữ liệu cá nhân, cũng như biết cách yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện các quyền này. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi cá nhân và đảm bảo dữ liệu cá nhân được quản lý một cách an toàn.

KẾT LUẬN

Luật Giao Dịch Điện Tử Việt Nam năm 2023 đưa ra các quy định rõ ràng và chi tiết nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch điện tử, đồng thời tạo ra một môi trường kinh doanh số an toàn và minh bạch. Các quy định mới về xác thực danh tính, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, chữ ký điện tử và hợp đồng điện tử không chỉ đảm bảo tính pháp lý của các giao dịch mà còn nâng cao niềm tin của người dùng vào các hoạt động trực tuyến. Doanh nghiệp và cá nhân cần tuân thủ và thực hiện đầy đủ các quy định này để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong các giao dịch điện tử, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế số Việt Nam.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 08, 2024 – CÁC QUY ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT NHÀ Ở 2023 TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ

Phát hành 08/ 2024

Hà Thị Hải
Luật sư Thành viên

Nguyễn Trần Liên Liên
Luật sư Cộng sự 

Ngày 29 tháng 06 năm 2024, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật số 43/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, trong đó nổi bật có nội dung Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2023 (“Luật Nhà ở 2023”) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024, tức sớm hơn 05 tháng so với thời điểm có hiệu lực trước đó quy định tại Luật Nhà ở 2023. Với kỳ vọng và yêu cầu của Quốc hội về việc khắc phục các tồn đọng của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 (“Luật Nhà ở 2014”), Luật Nhà ở 2023 đã luật hóa một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành và bổ sung nhiều quy định rõ ràng hơn trong việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Liên quan đến việc quản lý và sử dụng nhà chung cư, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung các quy định mới như sau:

Thứ nhất, Luật Nhà ở 2014 chỉ quy định cấm các hành vi liên quan đến việc sử dụng sai mục đích nhà chung cư và lấn chiếm không gian chung, Luật Nhà ở 2023 đã có nhóm các quy định cụ thể về các hành vi cấm trong việc quản lý và sử dụng nhà chung cư với nhiều hành vi cấm được bổ sung.

So với Luật Nhà ở 2014, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung nhiều quy định cấm mới nhằm tăng cường quản lý và bảo vệ môi trường sống của cư dân, cụ thể, Luật Nhà ở 2023 đã ghi nhận việc không đóng kinh phí bảo trì và sử dụng không đúng kinh phí quản lý vận hành và kinh phí bảo trì là những hành vi bị nghiêm cấm. Quy định này đảm bảo các quỹ tài chính cần thiết cho việc bảo trì và vận hành nhà chung cư được thu và sử dụng đúng mục đích, giúp duy trì chất lượng và an toàn của công trình, bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu nhà chung cư tuân thủ quy định khác. Luật Nhà ở 2023 đồng thời nghiêm cấm các hành vi gây ảnh hưởng đến trật tự và cảnh quan nhà chung cư, bao gồm việc sơn, trang trí mặt ngoài không đúng quy định về thiết kế, kiến trúc, hay việc chăn, thả gia súc, gia cầm, giết mổ gia súc trong khu vực nhà chung cư, góp phần bảo vệ môi trường sống chung, đảm bảo trật tự và mỹ quan, tạo ra môi trường sống văn minh và sạch đẹp cho tất cả chủ sở hữu nhà chung cư.

Ngoài ra, Luật Nhà ở 2023 còn nghiêm cấm hành vi chia tách căn hộ chung cư khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (“CQNN”) cho phép. Quy định cấm này giúp bảo đảm an toàn kết cấu của nhà chung cư, đảm bảo tính đồng bộ trong quy hoạch, tránh gây ra tình trạng quá tải cho cơ sở hạ tầng và các vấn đề an toàn khác trong quá trình sử dụng nhà chung cư.

Thứ hai, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung một số quy định cụ thể trong việc đầu tư xây dựng chỗ để xe của nhà chung cư, cũng như đã luật hóa một số quy định trong Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư để bảo đảm tính pháp lý trong áp dụng và thực hiện.

Thiết kế nhà chung cư phải phân định khu vực dành cho từng loại xe: Trong khi Luật Nhà ở 2014 chỉ quy định chung về việc đảm bảo xây dựng chỗ để xe theo quy chuẩn xây dựng và thiết kế được phê duyệt, Luật Nhà ở 2023 đã luật hóa quy định trong Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư khi bổ sung quy định cụ thể về việc chỗ để xe có thể được bố trí tại tầng hầm hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đồng thời, Luật Nhà ở 2023 bổ sung thêm yêu cầu chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà chung cư (“CĐT”) phải thực hiện phân định rõ ràng từng khu vực dành cho từng loại xe trong thiết kế nhà chung cư. Yêu cầu cụ thể này đảm bảo để CQNN có đánh giá đầy đủ và chính xác hơn về chất lượng và an toàn của công trình, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của dự án nhà chung cư đối với hệ thống giao thông của khu vực xung quanh nhà chung cư, tránh việc CĐT thay đổi mục đích sử dụng của từng khu vực trong chỗ để xe trái với thiết kế đã được phê duyệt và đảm bảo quyền sở hữu, sử dụng chung của các chủ sở hữu nhà chung cư đối với chỗ để xe (ngoài chỗ để xe ô tô).

Quy định về khu vực sạc điện: Ngoài quy định bố trí khu vực riêng biệt cho từng loại xe, việc bổ sung quy định yêu cầu khu vực sạc điện cho xe động cơ điện được bố trí theo tiêu chuẩn quy chuẩn xây dựng là điểm mới đáng chú ý, thể hiện sự chuẩn bị của Luật Nhà ở 2023 đối với sự phát triển của các công nghệ mới, đáp ứng nhu cầu và xu hướng sử dụng xe điện ngày càng tăng của xã hội. Tuy nhiên, quy định việc bố trí khu vực sạc điện này của Luật Nhà ở 2023 lại không đề cập rõ ràng có yêu cầu bắt buộc tất cả thiết kế nhà chung cư phải có khu vực sạc điện hay không. Trước thực trạng người dân sạc điện cho xe động cơ điện tuỳ tiện, không đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, và nhiều vụ hoả hoạn bắt nguồn từ cháy nổ do sạc điện xe động cơ điện trong thời gian gần đây, việc có các hướng dẫn cụ thể rõ ràng tiêu chuẩn thiết kế khu vực sạc điện tại toà nhà chung cư là rất cấp thiết. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng và công bố 11 Tiêu chuẩn Việt Nam về trạm sạc xe điện (gồm 9 tiêu chuẩn về trạm sạc và 2 tiêu chuẩn về hoàn đổi pin xe điện), và đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ đang dự thảo sửa đổi các quy định pháp luật và xây dựng bổ sung thêm 18 tiêu chuẩn khác liên quan đến trạm sạc xe điện và các thiết bị điện liên quan (như được đề cập trong Công văn số 149/BKHCN-TĐC ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Bộ Khoa học và Công nghệ). Đây sẽ là cơ sở để các CĐT thực hiện và tuân thủ trong việc xây dựng và thiết kế khu vực sạc điện trong nhà chung cư, nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản và tính mạng của các cư dân sinh sống trong khu vực nhà chung cư.

Công khai chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe ô tô: Luật Nhà ở 2023 quy định rõ ràng về việc trong trường hợp người mua căn hộ không mua hoặc không thuê chỗ để xe ô tô, chỗ để xe ô tô này thuộc quyền quản lý của CĐT và CĐT không được tính vào giá bán căn hộ chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe ô tô. Đồng thời, Luật Nhà ở 2023 yêu cầu CĐT phải công khai chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe ô tô, nhằm mục đích giúp người mua hiểu rõ cấu phần giá bán căn hộ mà mình chi trả có bao gồm chi phí xây dựng chỗ để xe ô tô hay không. Quy định này giúp khắc phục tình trạng thực tế CĐT của một số dự án nhà ở xác định chỗ để xe ô tô thuộc sở hữu riêng của CĐT nhưng không rõ ràng trong việc có phân bổ chi phí đầu tư xây dựng chỗ để ô tô vào giá bán căn hộ cho người mua hay không. Tuy nhiên, quy định này cần hướng dẫn cụ thể hơn về thời điểm, cũng như phương thức để CĐT công khai chi phí xây dựng chỗ để xe ô tô, đảm bảo để người mua nắm được trước khi quyết định ký kết hợp đồng mua bán căn hộ.

Thứ ba, Luật Nhà ở 2023 bổ sung cách xác định diện tích lô gia trong việc xác định diện tích sử dụng căn hộ, phần diện tích khác trong nhà chung cư.

Theo đó, diện tích lô gia được tính toàn bộ diện tích sàn từ mép trong của tường chung hoặc tường bao căn hộ. Quy định cụ thể này giúp xác định cách thức tính chính xác diện tích lô gia trong căn hộ, hạn chế sự không rõ ràng trong quy định để các CĐT mập mờ trong cách thức tính, làm tăng diện tích căn hộ khi xác định giá bán hoặc giá thuê mua của nhà chung cư.

Đồng thời tại quy định này, Luật Nhà ở 2023 quy định rõ ràng về quyền sở hữu đối với trang thiết bị, cấu kiện gắn liền với ban công, lô gia của căn hộ chung cư. Trong trường hợp trang thiết bị, cấu kiện gắn liền với ban công, lô gia nhưng thuộc mặt đứng của công trình theo hồ sơ thiết kế thì trang thiết bị, cấu kiện đó được xác định thuộc phần sở hữu chung của nhà chung cư. Đây là quy định tạo thuận lợi cho CĐT cũng như người mua trong việc xác định rõ ràng phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung khi trang thiết bị được gắn vào phần sở hữu riêng, hạn chế sự không rõ ràng tại Luật Nhà ở 2014 khi quy định phần sở hữu riêng bao gồm hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ hoặc gắn liền với phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng.

Thứ tư, Luật Nhà ở 2023 đã loại bỏ thêm một số chi phí khỏi giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư so với Luật Nhà ở 2014.

Luật Nhà ở 2023 bổ sung thêm việc loại trừ khỏi giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư hai loại phí bao gồm (i) kinh phí mua bảo hiểm cháy, nổ, và (ii) thù lao cho Ban quản trị nhà chung cư. Quy định mới này dường như nhằm mục đích tách bạch rõ ràng giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư và các khoản chi phục vụ hoạt động của Ban quản trị nhà chung cư, theo đó thù lao Ban quản trị nhà chung cư sẽ được Hội nghị nhà chung cư quyết định việc đóng góp riêng, và tránh ảnh hưởng tới việc quyết định, đóng góp và sử dụng phí dịch vụ quản lý vận hành và tránh các tranh chấp có thể xảy ra liên quan đến giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư.

Luật Nhà ở 2023 đồng thời bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc ban hành khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư để làm cơ sở cho các bên tham khảo. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về giá dịch vụ thì sẽ áp dụng giá trong khung giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.

Thứ năm, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung quy định cụ thể về việc bàn giao công trình hạ tầng khu vực có nhà chung cư.

Luật Nhà ở 2014 không có quy định về vấn đề bàn giao công trình hạ tầng, cũng như thời điểm và cách thức bàn giao các công trình trình hạ tầng từ CĐT cho CQNN. Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung quy định cụ thể về vấn đề này. Theo đó, trong trường hợp phải bàn giao công trình hạ tầng theo thiết kế/chủ trương dự án được phê duyệt, công trình hạ tầng phải được bàn giao cho CQNN sau khi có nghiệm thu công trình và theo đề nghị của CĐT. Quá trình bàn giao và tiếp nhận phải được ghi nhận bằng văn bản giữa CĐT và CQNN. Quy định tại Điều 157 và 158 Luật Nhà ở 2023 đồng thời xác định rõ ràng về trách nhiệm bảo trì công trình hạ tầng kỹ thuật, theo đó, trường hợp công trình hạ tầng kỹ thuật chưa được bàn giao cho CQNN, CĐT vẫn phải bảo trì, quản lý và vận hành theo nội dung dự án đã được phê duyệt, đảm bảo công trình không gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng và môi trường sống của cư dân nhà chung cư.

Các nội dung trên đây là một số thay đổi đáng chú ý của Luật Nhà ở 2023 trong vấn đề quản lý và sử dụng nhà chung cư, góp phần tăng cường sự rõ ràng và minh bạch trong quản lý nhà chung cư, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan, góp phần xây dựng môi trường sống tốt đẹp, an toàn và bền vững cho cư dân theo đúng định hướng của Quốc hội khi xây dựng và ban hành Luật Nhà ở 2023. Tuy nhiên, để các quy định mới này được áp dụng hiệu quả trên thực tế và phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam thì còn cần các hướng dẫn thi hành cụ thể của Chính phủ và các Bộ, ngành quản lý có liên quan trong thời gian tới.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 03, 2024 – Việt Nam – Các yêu cầu tuân thủ trọng yếu về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát hành 03/ 2024

Nguyễn Anh Tuấn
Luật sư Điều hành

Phan Thị Minh
Luật sư Cộng sự Cấp cao

Lời mở đầu:

“Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023, các hành vi liên quan đến dữ liệu cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam, sử dụng không gian mạng, thiết bị, phương tiện điện tử, hoặc các hình thức khác để chuyển dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam tới một địa điểm nằm ngoài lãnh thổ của Việt Nam hoặc sử dụng một địa điểm nằm ngoài lãnh thổ của Việt Nam để xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Na, sẽ phải tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân được quy định trong Nghị định 13 của Chính Phủ.

Một trong những văn bản quy phạm pháp luật mới nhất và cơ bản nhất điều chỉnh về vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP (“Nghị định 13”). Sau một thời gian chờ đợi khá dài, Nghị định 13 đã được Chính phủ ban hành vào ngày 17/4/2023.

Nghị định 13 đã đặt ra các yêu cầu mới liên quan đến việc bảo vệ dữ liệu cá nhân cho bất kỳ tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân tại Việt Nam. Các yêu cầu này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023, ngoại trừ yêu cầu về chỉ định cá nhân và/hoặc bộ phận bảo vệ dữ liệu cá nhân  có thể được miễn trừ 02 năm kể từ khi thành lập cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, và doanh nghiệp khởi nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp cần kiểm tra lại các chính sách bảo mật nội bộ và thực tiễn tuân thủ của mình để nhận diện các nội dung chưa tuân thủ Nghị định 13 và tiến hành ngay lập tức các biện pháp khắc phục để đảm bảo tuân thủ Nghị định 13.

Dưới đây là các yêu cầu tuân thủ trọng yếu về bảo vệ cá nhân trong Nghị định 13.

1. Xác định vai trò của doanh nghiệp trong quá trình xử lý dữ liệu cá nhân

Nghị định 13 phân biệt rõ ràng giữa các vai trò khác nhau của các bên liên quan trong việc xử lý dữ liệu và quy định trách nhiệm tương ứng đối với từng vai trò. Cụ thể:

Bên Kiểm Soát Dữ Liệu là một tổ chức, cá nhân quyết định mục đích và phương tiện xử lý dữ liệu cá nhân. Bên Kiểm Soát Dữ Liệu có trách nhiệm cao nhất trong việc tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ dữ liệu, bao gồm việc phải có được sự đồng ý trước của chủ thể dữ liệu cho tất cả các hoạt động xử lý dữ liệu, tiếp nhận các yêu cầu của chủ thể dữ liệu và thực hiện thông báo về bất kỳ hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân nào cho Bộ Công An (“BCA”).

Bên Xử Lý Dữ Liệu là một tổ chức hoặc cá nhân thực hiện việc xử lý dữ liệu cá nhân thay mặt cho Bên Kiểm Soát Dữ Liệu thông qua một hợp đồng với Bên Kiểm Soát Dữ Liệu. Bên Xử Lý Dữ Liệu chịu trách nhiệm thông báo cho Bên Kiểm Soát Dữ Liệu về bất kỳ vi phạm dữ liệu cá nhân nào và xử lý dữ liệu cá nhân theo đúng hợp đồng đã ký kết với Bên Kiểm Soát Dữ Liệu.

Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu là kết hợp giữa vai trò của Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Xử Lý Dữ Liệu.

Bên Thứ Ba là các cá nhân hoặc tổ chức ngoài chủ thể dữ liệu, Bên Kiểm Soát Dữ Liệu, Bên Xử Lý Dữ Liệu hoặc Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu được phép xử lý dữ liệu cá nhân. Bên Thứ Ba có trách nhiệm lưu trữ dữ liệu cá nhân theo hình thức phù hợp với hoạt động của mình và có biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.

Theo đó, việc xác định chính xác vai trò của doanh nghiệp trong việc xử lý dữ liệu cá nhân là rất quan trọng để có thể xác định trách nhiệm của mình trong quá trình xử lý dữ liệu cá nhân.

2. Phải có được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu

Nghị định 13 yêu cầu tất cả các hoạt động trong quy trình xử lý dữ liệu phải có được sự đồng ý trước của chủ thể dữ liệu, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu chỉ có hiệu lực khi (i) được đưa ra một cách tự nguyện và (ii) chủ thể dữ liệu biết rõ các thông tin về loại dữ liệu cá nhân, mục đích xử lý dữ liệu, các bên được xử lý dữ liệu và quyền, nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu. Lưu ý rằng, sự đồng ý phải được thể hiện bằng văn bản, giọng nói, đánh dấu vào ô đồng ý, cú pháp đồng ý qua tin nhắn, chọn các thiết lập kỹ thuật đồng ý hoặc qua một hành động khác thể hiện được điều này.

Sự im lặng hoặc không phản hồi của chủ thể dữ liệu không được coi là là sự đồng ý. Trong trường hợp có tranh chấp, trách nhiệm chứng minh sự đồng ý của chủ thể dữ liệu thuộc về Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu.

3. Đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân

Tất cả Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu phải lập và lưu giữ hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân của mình (“Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động”) kể từ thời điểm bắt đầu xử lý dữ liệu cá nhân. Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động phải được gửi cho Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) trong thời gian 60 ngày kể từ ngày tiến hành xử lý dữ liệu cá nhân để A05 xem xét và phải luôn có sẵn để BCA kiểm tra, đánh giá.

Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động phải bao gồm:

  • Thông tin của Bên Kiểm Soát Dữ Liệu, Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu và nhân viên bảo vệ dữ liệu của bên đó;
  • Mục đích và loại dữ liệu cá nhân được xử lý;
  • Bên nhận dữ liệu cá nhân, bao gồm các tổ chức, cá nhân ngoài lãnh thổ Việt Nam;
  • Trường hợp chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài;
  • Thời gian xử lý dữ liệu cá nhân, thời gian dự kiến để xoá, huỷ dữ liệu cá nhân (nếu có);
  • Mô tả về các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân được áp dụng;
  • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc xử lý dữ liệu cá nhân; hậu quả, thiệt hại không mong muốn có khả năng xảy ra, các biện pháp giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ, tác hại đó.

Bên Xử Lý Dữ Liệu cũng có thể phải tiến hành lập và lưu giữ Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động nếu hợp đồng ký kết với Bên Kiểm Soát Dữ Liệu có yêu cầu.

4. Chuyển dữ liệu cá nhân qua nước ngoài

Nghị định 13 cho phép bên chuyển dữ liệu ra nước ngoài (bao gồm Bên Kiểm Soát Dữ Liệu, Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu, Bên Xử Lý Dữ Liệu và Bên Thứ Ba) chuyển dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam sang nước thứ ba, tuy nhiên phải tuân theo các yêu cầu sau:

  • Bên chuyển dữ liệu phải chuẩn bị hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài. Hồ sơ phải bao gồm các nội dung bắt buộc như: Mô tả loại dữ liệu cá nhân chuyển ra nước ngoài, mô tả và luận giải mục tiêu của các hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam, văn bản thể hiện sự ràng buộc, trách nhiệm giữa bên chuyển và bên nhận dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam về việc xử lý dữ liệu cá nhân.
  • Hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân phải luôn có sẵn để BCA kiểm tra, đánh giá. Bên chuyển dữ liệu gửi bản chính hồ sơ đánh giá tác động tới BCA theo mẫu quy định trong thời gian 60 ngày kể từ ngày tiến hành xử lý dữ liệu cá nhân. BCA có thể yêu cầu bên chuyển hoàn thiện hồ sơ đánh giá tác động trong trường hợp hồ sơ không đúng quy định.
  • Khi việc chuyển dữ liệu diễn ra thành công, bên chuyển dữ liệu phải gửi thông báo bằng văn bản cho BCA về việc chuyển dữ liệu và và chi tiết liên lạc của bên phụ trách.

BCA có quyền quyết định ngừng chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài nếu bên chuyển không chấp hành các yêu cầu nêu trên hoặc vi phạm lợi ích, an ninh quốc gia của Việt Nam hoặc để xảy ra sự cố lộ, mất dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam.

5. Yêu cầu về thông báo vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Trong trường hợp phát hiện ra bất kỳ vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân nào, (i) Bên Xử Lý Dữ Liệu phải thông báo ngay cho Bên Kiểm Soát Dữ Liệu về vi phạm xảy ra và (ii) Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu phải thông báo cho BCA (A05) chậm nhất 72 giờ sau khi xảy ra hành vi vi phạm. Việc  thông báo phải được thực hiện theo mẫu quy định với các nội dung bắt buộc. Trong trường hợp thông báo sau 72 giờ, Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu phải cung cấp lý do thông báo chậm, muộn.

Hiện chưa có một văn bản pháp luật nào tổng hợp các quy định về việc xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại thời điểm có hiệu lực của Nghị định 13. Tuy nhiên, có một số quy định về một số biện pháp xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về thu thập, sử dụng, cập nhật, sửa đổi, gỡ bỏ thông tin cá nhân và bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên không gian mạng, với mức phạt hành chính từ 10 triệu đến 70 triệu VNĐ hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật Hình Sự đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng.

Tổng quan

Các yêu cầu được quy định trong Nghị định 13 đã gây ra sự khó khăn đáng kể cho các bên liên quan trong việc xử lý dữ liệu cá nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp đa quốc gia. Do các quy định này còn khá tổng quát, chúng tôi mong đợi rằng BCA sẽ ban hành thêm các văn bản hướng dẫn, giải thích và thực thi các quy định tại Nghị định 13.

Download pdf version