BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 2, 2026 – LUẬT ĐẦU TƯ 2025 CÓ HIỆU LỰC TỪ 01/03/2026 VỚI MỘT SỐ THAY ĐỔI QUAN TRỌNG NHÀ ĐẦU TƯ VÀ DOANH NGHIỆP CẦN LƯU Ý

Phát hành Tháng 02/2026

Nguyễn H.Nhật Thi
Luật sư Cố vấn

Trịnh Nguyên Hoàng
Trợ lý Luật sư

TÓM TẮT

2020-2025 là giai đoạn địa chính trị thế giới có nhiều biến động, hoạt động đầu tư, các chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc mạnh mẽ, nhiều nhận định cho rằng dòng vốn đầu tư nói chung, đặc biệt là vốn FDI thế hệ mới không còn đặt nặng lợi thế chi phí thấp hay ưu đãi ngắn hạn mà đang chuyển dịch ưu tiên tới những môi trường đầu tư ổn định, hạ tầng chính trị – xã hội – môi trường – công nghệ kết nối đồng bộ, khuyến khích các tiêu chuẩn phát triển bền vững.

Trong bối cảnh đó, dù Luật Đầu tư mới được sửa đổi và ban hành năm 2020[1] cũng như qua 03 lần sửa đổi chính thức (2022, 2024, 2025), yêu cầu đặt ra việc ban hành một Luật đầu tư thống nhất, ổn định, thông thoáng, chi phí tuân thủ thấp, khơi dậy tiềm năng, tạo động lực phát triển và thu hút nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài là vô cùng cần thiết và cấp bách.

Cụ thể hóa nội dung của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/1/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, Nghị quyết 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026, Luật Đầu tư 2025[2] đã được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/03/2026, tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hành lang pháp lý về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

Trong đó, một số điểm mới của Luật Đầu tư 2025 mà nhà đầu tư và doanh nghiệp cần lưu ý bao gồm:

  • Phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư nhiều hơn cho địa phương và xác định rõ các dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư;
  • Mở rộng phạm vi áp dụng của thủ tục đầu tư đặc biệt (áp dụng cơ chế “hậu kiểm” thay cho “tiền kiểm”);
  • Bổ sung quy định nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế trước khi xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
  • Cắt giảm số lượng ngành nghề kinh doanh có điều kiện;
  • Loại bỏ 02 trường hợp nhà đầu tư bắt buộc phải xin điều chỉnh chủ trương đầu tư;
  • Cho phép nhà đầu tư linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư;
  • Đơn giản hoá thủ tục đầu tư ra nước ngoài.

1. PHÂN CẤP THẨM QUYỀN CHẤP THUẬN CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ

Trước đây, Luật Đầu tư 2020 được sửa đổi bổ sung quy định các dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo nhóm dự án thuộc thẩm quyền của từng cơ quan (Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, UBND cấp tỉnh). Luật Đầu tư 2025 quy định rõ ràng và dễ áp dụng hơn theo hướng Điều 24 liệt kê 20 trường hợp các dự án thuộc diện phải chấp thuận chủ trương đầu tư; đồng thời, Điều 25 quy định về thẩm quyền chấp thuận cho các cấp chủ thể lần lượt là Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và Ban quản lý khu công nghiệp/khu chế xuất/khu công nghệ cao/khu kinh tế. Theo đó, điểm cần lưu ý là Luật Đầu tư 2025 đẩy mạnh xu thế phân cấp thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư. Nội dung này được kỳ vọng sẽ rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục đầu tư cho các dự án đầu tư cũng như giảm tải gánh nặng thẩm định và phê duyệt chủ trương đầu tư ở cấp Trung ương.

Cụ thể, Quốc hội chỉ còn giữ lại thẩm quyền chấp thuận các “dự án đầu tư có yêu cầu áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt, khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội.” Toàn bộ các dự án còn lại trước đây thuộc thẩm quyền của Quốc hội tại Luật Đầu tư 2020 như dự án đầu tư ảnh hưởng lớn đến môi trường, dự án đầu tư có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp có diện tích lớn hoặc dự án yêu cầu di dân tái định cư nhiều người, nay được phân cấp cho Thủ tướng Chính phủ.

Trong khi đó, Thủ tướng Chính phủ vẫn tiếp tục nắm giữ thẩm quyền chấp thuận đối với 8 nhóm dự án có tầm ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia, tài nguyên thiên nhiên và những lĩnh vực nhạy cảm, ví dụ như dự án đầu tư kinh doanh đặt cược/casino, dự án nhà máy điện hạt nhân…

Đồng thời, cấp UBND tỉnh[3] được trao thẩm quyền rộng hơn so với Luật Đầu tư 2020 với 13 nhóm dự án đầu tư so với 7 nhóm như trước đây. Cụ thể, nhiều nhóm dự án trước đây thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ như dự án đầu tư chế biến dầu khí, cảng hàng không, sân bay, đường cất hạ cánh của cảng hàng không, nhà ga hành khách của cảng hàng không quốc tế, dự án đầu tư mới kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường hàng không… nay đã được đẩy mạnh phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Bên cạnh việc quy định rõ và phân cấp dự án thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư cũng không còn được quy định trong Luật Đầu tư 2025 mà sẽ được Chính phủ quy định chi tiết. Quy định này nhằm tăng tính ổn định của luật và tính linh hoạt trong điều hành chính sách của Chính phủ.

2. MỞ RỘNG PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA THỦ TỤC ĐẦU TƯ ĐẶC BIỆT

Trước đây, cơ chế này đã được áp dụng trong phạm vi hẹp từ ngày 15/1/2025, khi một trong những điểm sửa đổi bổ sung của Luật Đầu tư 2020[4] là nhà đầu tư được phép lựa chọn đầu tư theo thủ tục đầu tư đặc biệt nếu dự án đầu tư được thực hiện tại một số khu vực như các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu chức năng trong khu kinh tế… và giới hạn trong một số lĩnh vực ưu tiên về đổi mới sáng tạo, công nghệ cao như đầu tư trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp mạch tích hợp bán dẫn, vật liệu bán dẫn, đầu tư xây dựng hạ tầng Big Data và iCloud, 5G….

Từ ngày 1/3/2026, Điều 28 của Luật Đầu tư 2025 đã mở rộng phạm vi áp dụng của thủ tục đầu tư đặc biệt này cho các dự án đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế và khu chức năng trong khu kinh tế trong tất cả các ngành nghề đầu tư kinh doanh, trừ trường hợp “dự án phải chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Chính phủ”.

Thủ tục này cho phép nhà đầu tư bỏ qua toàn bộ quy trình thẩm định “tiền kiểm” kéo dài trong nhiều tháng bao gồm: chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định công nghệ, đánh giá tác động môi trường, lập quy hoạch chi tiết 1/500, xin giấy phép xây dựng và phê duyệt phòng cháy, chữa cháy và Cơ quan có thẩm quyền sẽ có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các dự án theo quy định pháp luật theo cơ chế “hậu kiểm” cũng như theo hướng dẫn của Chính phủ ở cấp Nghị định.

Đây là một điểm mới quan trọng của Luật Đầu tư 2025 từ góc độ quản lý nhà nước và xây dựng chính sách, theo hướng Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh giảm khâu cấp phép đối với các dự án đầu tư tại các khu vực đã có hạ tầng phát triển đồng bộ và sẽ tập trung vào cơ chế báo cáo, đánh giá, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các dự án đầu tư.

Đồng thời, với sự thành lập của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam (Vietnam International Financial Centre – IFC), thủ tục đầu tư đặc biệt cũng sẽ được ghi nhận áp dụng đối với thiết chế này, đồng bộ với chủ trương của Chính phủ Việt Nam xây dựng đây là điểm đến đầu tư hấp dẫn của các nhà đầu tư.

3. CHO PHÉP NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ TRƯỚC KHI XIN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ

Luật Đầu tư 2025[5] lần đầu tiên ghi nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế và xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“ERC”) trước khi xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (“IRC”) nhưng vẫn phải đáp ứng các điều kiện về tiếp cận thị trường.

Thay đổi này có mục đích xử lý điểm nghẽn kéo dài nhiều năm đối với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài: để chuẩn bị hồ sơ xin cấp IRC, nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành ký hợp đồng thuê trụ sở, tuyển dụng nhân sự chủ chốt, mở tài khoản ngân hàng hay bảo lãnh lao động nước ngoài trong giai đoạn chuẩn bị dự án trong tình trạng “không có tư cách pháp nhân”. Việc được cấp ERC trước khi làm thủ tục xin cấp IRC sẽ giúp nhà đầu tư nước ngoài rút ngắn thời gian gia nhập thị trường, giảm chi phí trung gian và tăng tính chủ động, minh bạch, thông thoáng trong tổ chức, đàm phán và triển khai hoạt động đầu tư.

Tuy nhiên, việc áp dụng quy định này sẽ còn cần chờ văn bản hướng dẫn ở cấp Nghị định, đặc biệt là cần có giải pháp xử lý phù hợp với những trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đã xin được cấp ERC nhưng không xin được IRC.

4. CẮT GIẢM DANH MỤC NGÀNH NGHỀ CÓ ĐIỀU KIỆN

Luật Đầu tư 2025 đã tiếp tục cụ thể hoá chính sách chung về cắt giảm danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện từ 227 ngành xuống còn 198 ngành.

Cụ thể, các ngành nghề như kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế, dịch vụ làm thủ tục hải quan, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, hay cho thuê lại lao động, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ trung tâm dữ liệu đã chính thức được đưa ra khỏi danh mục.

Đồng thời, một số các ngành nghề kinh doanh phản ánh nhu cầu phát triển trong thời đại mới như dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon trong nước (cùng với sự ra đời của Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước) hay cung ứng dịch vụ tiền di động (mobile money) đã được bổ sung vào danh sách.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng được giao nhiệm vụ phân loại 198 ngành nghề nói trên và công bố 02 danh mục riêng biệt, bao gồm:[6]

  • Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện cần thiết phải cấp phép, chứng nhận trước khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh và;
  • Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện phải chuyển phương thức quản lý điều kiện kinh doanh từ cấp phép, chứng nhận sang công bố yêu cầu, điều kiện kinh doanh để quản lý phương thức hậu kiểm.

Việc công bố danh mục nói trên giúp nhà đầu tư nắm được rõ ngành nghề nào là ngành nghề phải đáp ứng điều kiện/ có “giấy phép con” thì mới được tiến hành hoạt động kinh doanh, và ngành nghề nào mặc dù có điều kiện nhưng có thể tiến hành hoạt động ngay theo phương thức công bố và kiểm soát hậu kiểm.

Lưu ý: Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Phụ lục IV Luật Đầu tư 2025 sẽ chỉ có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

5. THU HẸP CÁC TRƯỜNG HỢP ĐIỀU CHỈNH DỰ ÁN

Trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, trong một số trường hợp nhà đầu tư điều chỉnh nội dung dự án đầu tư thì cần thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án đầu tư, cũng như điều chỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, thủ tục này có thể kéo dài, gây gián đoạn hoạt động đầu tư, thậm chí khiến nhà đầu tư lỡ cơ hội kinh doanh hoặc chậm trễ trong áp dụng các công nghệ mới đối với dự án đầu tư, đặc biệt là trong một số tình huống mà việc thay đổi không cần sự can thiệp quản lý của Cơ quan nhà nước.

Điều 33 Luật Đầu tư 2025 đã tháo gỡ vướng mắc này khi bãi bỏ 02 trường hợp bắt buộc phải điều chỉnh chủ trương đầu tư khi điều chỉnh dự án đầu tư, bao gồm:

  • Thay đổi tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư; và
  • Thay đổi công nghệ đã được thẩm định, lấy ý kiến trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư.

Như vậy, sau khi tinh giản, Điều 33 Luật Đầu tư 2025 chỉ còn giữ lại 05 trường hợp bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư. Bao gồm:

  • Thay đổi, bổ sung nội dung, mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư;
  • Thay đổi quy mô diện tích đất sử dụng theo quy định của Chính phủ (trước đây là trên 10% hoặc trên 30ha), thay đổi địa điểm đầu tư;
  • Kéo dài tiến độ thực hiện dự án trong trường hợp điều chỉnh tiến độ quá 24 tháng theo quy định tại Điều 33.4 của Luật Đầu tư 2025;
  • Điều chỉnh thời hạn hoạt động của dự án đầu tư; và
  • Thay đổi nhà đầu tư của dự án đầu tư được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư trước khi dự án khai thác, vận hành hoặc thay đổi điều kiện đối với nhà đầu tư (nếu có).

Lưu ý: Mặc dù không cần phải làm thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 2 trường hợp mới bị loại bỏ, nhưng nếu sự thay đổi này làm phát sinh yêu cầu sửa đổi nội dung chính của dự án quy định tại IRC, nhà đầu tư vẫn cần thực hiện thủ tục điều chỉnh IRC để ghi nhận sự thay đổi.

6. LINH HOẠT THỜI HẠN HOẠT ĐỘNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Khác với Luật Đầu tư 2020, Luật Đầu tư 2025 cho phép nhà đầu tư chủ động hơn trong việc kiểm soát thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.

Cụ thể, quy định hiện hành của Luật Đầu tư 2020 dẫn tới cách hiểu nhà đầu tư chỉ được tăng thời hạn hoạt động của dự án đầu tư dưới hình thức gia hạn thời hạn hoạt động của dự án khi dự án hết thời hạn hoạt động mà nhà đầu tư có nhu cầu tiếp tục thực hiện dự án đầu tư.

Trong khi đó, Luật đầu tư 2025 bên cạnh việc kế thừa quy định nói trên để đảm bảo nhà đầu tư vẫn có quyền xin gia hạn thời hạn hoạt động của dự án khi hết thời hạn, đồng thời còn mở rộng quyền hơn khi cho phép nhà đầu tư “trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, nhà đầu tư được điều chỉnh tăng hoặc giảm thời hạn hoạt động của dự án đầu tư.”[7]

Quy định này sẽ tạo cơ chế giúp nhà đầu tư có được sự chắc chắn hơn trong việc dự liệu và quản lý thời hạn thực hiện dự án đầu tư. Theo đó, trong quá trình thực hiện dự án, nhà đầu tư có thể chủ động đề nghị tăng thời hạn hoạt động của dự án so với thời hạn đã được chấp thuận trước đó, thay vì việc phải chờ tới khi kết thúc thời hạn thực hiện dự án mới được thực hiện thủ tục xin phép gia hạn.

Không những vậy, đối với các giao dịch chuyển nhượng dự án, Luật Đầu tư 2025 còn mở ra khả năng xem xét, quyết định tăng thời hạn hoạt động của dự án trên cơ sở nhà đầu tư nhận chuyển nhượng đề xuất trong trường hợp thời hạn hoạt động còn lại của dự án không đáp ứng được phương án tài chính hoặc phương án đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nhận chuyển nhượng.[8] Việc đề xuất này được thực hiện cùng với thủ tục chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc cấp, điều chỉnh IRC trong quá trình chuyển nhượng dự án.

7. ĐƠN GIẢN HOÁ THỦ TỤC ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI

Luật Đầu tư 2025 đã bãi bỏ hoàn toàn thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, nhà đầu tư chỉ phải thực hiện thủ tục xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài trong hai trường hợp: (i) dự án có mức vốn đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Chính phủ hoặc (ii) dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo Điều 41.1 (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, kinh doanh bất động sản). Đối với dự án quy mô lớn hoặc đề xuất cơ chế, chính sách đặc biệt, Bộ Tài chính phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét trước khi cấp hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Các dự án không thuộc các trường hợp trên không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, mà chỉ cần đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định pháp luật liên quan.

8. MỘT SỐ NỘI DUNG QUAN TRỌNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP MÀ NHÀ ĐẦU TƯ CẦN QUAN TÂM

Theo Điều 52 của Luật Đầu tư 2025, kể từ ngày 1/3/2026 trở đi, một số nội dung điều khoản chuyển tiếp đã được thông qua bao gồm:

Thứ nhất, bảo toàn hiệu lực pháp lý của giấy phép đã cấp.

Toàn bộ Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, IRC, quyết định chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư được cấp trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực tiếp tục có giá trị thi hành theo nội dung đã phê duyệt.

Thứ hai, bảo lưu điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.

Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường thuận lợi hơn so với quy định tại Điều 8 Luật Đầu tư 2025 được tiếp tục hưởng điều kiện theo IRC đã cấp, bảo đảm tính ổn định của môi trường đầu tư và tuân thủ các hiệp định đầu tư quốc tế.

Thứ ba, tiếp tục xử lý hồ sơ đang giải quyết theo luật cũ.

Hồ sơ hợp lệ đã tiếp nhận theo quy định của Luật Đầu tư 2020 trước 1/3/2026 thì tiếp tục áp dụng theo quy định của Luật Đầu tư 2020, trừ 02 trường sau đây:

  • Trường hợp dự án đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực thi hành chưa đáp ứng yêu cầu, điều kiện để chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020, Bộ Tài chính chuyển hồ sơ dự án, ý kiến thẩm định và báo cáo thẩm định cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý theo thẩm quyền quy định tại Luật này;
  • Trường hợp dự án chưa được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư trước ngày Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực thi hành, Bộ Tài chính chuyển hồ sơ dự án và ý kiến thẩm định dự án (nếu có) cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xử lý theo thẩm quyền quy định tại Luật này;

Thứ tư, giấy phép con của các ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã bị bãi bỏ tiếp tục có hiệu lực.

Đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật Đầu tư năm 2020 nhưng đã bị bãi bỏ theo quy định của Luật Đầu tư 2025, tổ chức, cá nhân được tiếp tục sử dụng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận hoặc hình thức văn bản cho phép đầu tư, kinh doanh khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp đến hết thời hạn của văn bản, giấy tờ đó.

KẾT LUẬN:

Có thể thấy, Luật Đầu tư 2025 đã có những thay đổi lớn, triệt để từ góc độ cách tiếp cận và tư duy lập pháp theo hướng tiến bộ, đổi mới, hiện đại, phân cấp từ Trung ương xuống địa phương, từ “tiền kiển” tới “hậu kiểm”, từ quy định chi tiết tới chỉ quy định khuôn khổ pháp lý chính… Những sự đổi mới này nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư, tháo gỡ các “điểm nghẽn” do quy định pháp luật, tiến tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, toàn cầu.

Nhà đầu tư và doanh nghiệp cần lưu ý nắm vững những nội dung thay đổi của Luật Đầu tư 2025 đồng thời theo dõi và cập nhật thường xuyên các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ liên quan đến nội dung của Luật Đầu tư 2025 để vận dụng được những sự thay đổi này một cách tối đa và hiệu quả.

[1] Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 17/6/2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 (“Luật Đầu tư 2020”).

[2] Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 do Quốc hội ban hành ngày 11/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 (“Luật Đầu tư 2025”).

[3] Luật Đầu tư 2025 thay đổi chủ thể chấp thuận chủ trương đầu tư ở cấp tỉnh từ UBND tỉnh sang Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

[4] Luật số 57/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 01 năm 2025.

[5] Điều 19.2 của Luật Đầu tư 2025.

[6] Điều 7.1 của Luật Đầu tư 2025.

[7] Điều 31.4 Luật Đầu tư 2025.

[8] Điều 52.6 của Luật Đầu tư 2025.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 2, 2025 – DỰ ÁN NHÀ Ở THƯƠNG MẠI ĐƯỢC THỰC HIỆN TRÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP, ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP KHÔNG PHẢI LÀ ĐẤT Ở?

Phát hành tháng 02 năm 2025

Nguyễn Bích Vân
Thành viên

Nguyễn H. Phương Uyên
Luật sư Cộng sự

DẪN NHẬP:

Chiều ngày 30/11/2024, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Nghị quyết số 171/2024/QH15 về việc thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất hoặc đang có quyền sử dụng đất (“Nghị Quyết 171”).  Nghị Quyết 171 đánh dấu một giai đoạn thí điểm mang tính đột phá tại Việt Nam với những điểm nổi bật như sau:

  • Cơ chế thí điểm linh hoạt: Nghị quyết cho phép triển khai các dự án nhà ở thương mại không chỉ thông qua thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất mà còn áp dụng cho các loại đất không thuộc diện đất ở.
  • Thúc đẩy phát triển nhà ở thương mại: Việc tháo gỡ các rào cản pháp lý sẽ kích thích sự phát triển của thị trường bất động sản, đặc biệt trong các khu vực đô thị lớn nơi nhu cầu về nhà ở rất cao;
  • Tăng cường quản lý và minh bạch: Nghị quyết đặt mục tiêu tạo ra một thị trường bất động sản minh bạch và bền vững.
  • Khuyến khích đầu tư: Nghị quyết mở ra cơ hội cho các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực phát triển nhà ở thương mại một cách dễ dàng hơn.
  • Hỗ trợ giải quyết vấn đề nhà ở: Nghị quyết 171 được kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm nhà ở, đặc biệt cho người có thu nhập thấp và trung bình tại các đô thị lớn.

1. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH

Nghị Quyết 171 thực hiện thí điểm trên phạm vi toàn quốc đối với dự án của tổ chức kinh doanh bất động sản trong các trường hợp sau đây:

  • Dự án nhận quyền sử dụng đất;
  • Dự án đang có quyền sử dụng đất;
  • Dự án đang có quyền sử dụng đất và nhận quyền sử dụng đất;
  • Dự án được các tổ chức đang sử dụng đất thành lập để thực hiện dự án nhà ở thương mại trên diện tích của cơ sở sản xuất kinh doanh phải di dời do ô nhiễm môi trường hoặc phải di dời theo quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị.

Trên cơ sở kế thừa và đảm bảo tính nhất quán với Luật Đất Đai, các dự án nhà ở thương mại của tổ chức kinh doanh bất động sản (i) nhận quyền sử dụng đất ở hoặc (ii) đang có quyền sử dụng đất ở hoặc đất ở và đất khác sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị Quyết 171 mà sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh và được thực hiện theo quy định Luật Đất Đai hiện hành.

Việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án thí điểm được thực hiện thông qua việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Trường hợp trong phạm vi khu đất, thửa đất thực hiện thí điểm có diện tích đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý nhưng không tách được thành dự án độc lập thì diện tích đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý được đưa vào tổng diện tích đất để lập dự án và được Nhà nước thu hồi để giao, cho thuê cho nhà đầu tư thực hiện dự án không phải thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, không phải đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất.

2. ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

Nghị Quyết 171 áp dụng với 03 nhóm đối tượng chính là (i) cơ quan nhà nước, (ii) tổ chức kinh doanh bất động sản và (iii) người sử dụng đất.  Theo đó, các đối tượng áp dụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tương ứng của mình theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN DỰ ÁN THÍ ĐIỂM

Điều kiện về khu đất, thửa đất:

  • Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị;
  • Phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở của địa phương đã được phê duyệt;
  • Thuộc danh mục các khu đất dự kiến thực hiện dự án thí điểm do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua.

Điều kiện về chủ thể thực hiện dự án (tổ chức kinh doanh bất động sản):

  • Đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất để thực hiện dự án thí điểm đối với trường hợp quy định tại điểm (a) và điểm (c) Mục 1 nêu trên hoặc có văn bản chấp thuận của Bộ Quốc phòng đối với đất quốc phòng, Bộ Công an đối với đất an ninh.

Điều kiện về loại đất:

  • Đất nông nghiệp;
  • Đất phi nông nghiệp không phải đất ở;
  • Đất ở và đất khác trong cùng thửa đất đối với trường hợp thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất;
  • Đất quốc phòng, đất an ninh đã được quy hoạch đưa ra khỏi đất quốc phòng, đất an ninh.

4. TIÊU CHÍ LỰA CHỌN DỰ ÁN THÍ ĐIỂM

  • Được thực hiện tại khu vực đô thị hoặc khu vực được quy hoạch phát triển đô thị;
  • Tổng diện tích đất ở trong các dự án thí điểm (bao gồm đất ở hiện hữu và đất dự kiến chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở) không vượt quá 30% của phần diện tích đất ở tăng thêm trong kỳ quy hoạch (so với hiện trạng sử dụng đất ở) theo phương án phân bổ và khoanh vùng đất đai trong quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 – 2030 đã được phê duyệt;
  • Không thuộc các dự án quy định tại khoản 4 Điều 67 của Luật Đất đai;
  • Đối với trường hợp quy định tại điểm (a) Mục 1 nêu trên, khu đất thực hiện dự án thí điểm phải không thuộc danh mục công trình, dự án phải thu hồi đất được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua theo quy định tại khoản 5 Điều 72 của Luật Đất đai.

5. HIỆU LỰC VÀ THI HÀNH

Nghị Quyết 171 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2025 và được thực hiện trong 05 năm. Khi Nghị Quyết 171 hết hiệu lực, tổ chức kinh doanh bất động sản đang thực hiện dự án thí điểm theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư được tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc dự án. Người nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trong dự án thí điểm có quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật.

KẾT LUẬN:

Nghị Quyết 171 là một bước tiến đột phá trong việc cải cách và nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực bất động sản tại Việt Nam, mở ra cơ hội mới cho các dự án nhà ở thương mại mà vẫn giữ được tính nhất quán với các quy định pháp luật về đất đai, đảm bảo tính công bằng trong quá trình tiếp cận dự án của các bên tham gia. Đồng thời, Nghị Quyết 171 tạo ra nền tảng cho sự ổn định về nguồn cung nhà ở thương mại và góp phần phát triển thị trường bất động sản minh bạch, lành mạnh và bền vững.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 12, 2024 – ĐỔI MỚI PHÁP LÝ VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG: LUẬT NĂM 2023 VÀ NGHỊ ĐỊNH 55/2024/NĐ-CP

Phát hành Tháng 12/2024

Trần Công Quốc
Luật sư Thành viên

Nguyễn Ngọc Ly
Luật sư Cộng sự Cấp cao

Người tiêu dùng luôn là nhóm đối tượng quan trọng và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ quốc gia nào. Quyền lợi của người tiêu dùng nên được ưu tiên bảo vệ bởi đây là nguồn lực và động lực chính cho sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, người tiêu dùng thường gặp phải bất lợi trong các giao dịch hàng hóa, dịch vụ với các tổ chức, cá nhân kinh doanh do thiếu thông tin hoặc những hạn chế về khả năng lựa chọn. Tình trạng này dẫn đến sự mất cân bằng quyền lợi, làm tổn hại đến quyền lợi của người tiêu dùng. Vì vậy, pháp luật nên có sự điều chỉnh và Nhà nước cần giám sát để đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa người tiêu dùng và các tổ chức, cá nhân kinh doanh, từ đó giúp người tiêu dùng được đối xử công bằng, có quyền truy cập thông tin chính xác và được bảo vệ khỏi những hành vi kinh doanh bất hợp pháp.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sửa đổi đã được Quốc hội khóa XV thông qua vào ngày 20/6/2023 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 (“Luật năm 2023”), thay thế cho Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 (“Luật năm 2010”). Việc sửa đổi này được thực hiện nhằm bắt kịp xu hướng toàn cầu và tuân theo các quy định pháp lý quốc tế, giúp cập nhật và hoàn thiện các quy định trong Luật, bao gồm 7 chương và 80 điều, phù hợp với xu hướng tiêu dùng và kinh doanh hiện đại. Đồng thời, Nghị định 55/2024/NĐ-CP, ban hành vào ngày 16/5/2024 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 (“Nghị định 55”), thay thế Nghị định 99/2011/NĐ-CP, tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong môi trường số, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương và tổ chức Ngày Quyền của Người tiêu dùng Việt Nam. Mục tiêu của việc sửa đổi này là để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tốt hơn trong bối cảnh Việt Nam có thị trường tiêu dùng lớn và đang phát triển nhanh chóng, đặc biệt trong Cách mạng Công nghiệp 4.0. (4IR) với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ như AI, blockchain và Internet Vạn Vật (IoT).

A. CÁC ĐIỂM MỚI NỔI BẬT

1.Quy định chung

a. Đối tượng áp dụng

Luật năm 2023 đã mở rộng đối tượng áp dụng (Điều 2), bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và tổ chức xã hội. Đặc biệt, đối với các giao dịch xuyên biên giới và giao dịch trực tuyến, Luật cũng áp dụng cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân nước ngoài có liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Định nghĩa “người tiêu dùng” trong Luật năm 2023 (Điều 3.1) bổ sung cụm từ “không vì mục đích thương mại” để nhấn mạnh rằng chỉ tập trung vào việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, Luật năm 2023 vẫn giữ thuật ngữ “người” để định nghĩa người tiêu dùng, điều này dẫn đến sự không rõ ràng liệu tổ chức hay hộ gia đình có thể được coi là người tiêu dùng hay không.

b. Người có ảnh hưởng (influencers)

Luật năm 2023 đưa ra các định nghĩa mới về “người có ảnh hưởng” (Điều 3.9). Khái niệm này được làm rõ tại Điều 2.1 Nghị định 55. Người có ảnh hưởng được hiểu là chuyên gia, cá nhân có uy tín, hoặc người được xã hội chú ý trong một lĩnh vực cụ thể, được các tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh tài trợ để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, hoặc khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại hoặc khuyến khích tiêu dùng. Các trường hợp cụ thể bao gồm: (i) người có chuyên môn hoặc kinh nghiệm, được công nhận bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong lĩnh vực, ngành nghề cụ thể; (ii) người tiêu biểu hoặc có uy tín có đóng góp nổi bật và được xã hội ghi nhận, được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận; và/hoặc (iii) người được xã hội chú ý hoặc có lượng theo dõi lớn đặc biệt trên các phương tiện truyền thông hoặc nền tảng số, đáp ứng các điều kiện tham gia quảng cáo hoặc kinh doanh trực tuyến. Quy định này nhằm minh bạch hóa vai trò của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong môi trường kinh doanh hiện đại.

Ngoài ra, theo Điều 22 của Luật năm 2023, người có ảnh hưởng có các nghĩa vụ sau:

  • Cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng và yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp tài liệu chứng minh tính chính xác của thông tin thông qua mình.
  • Chịu trách nhiệm liên đới nếu cung cấp thông tin sai lệch hoặc không đầy đủ, trừ khi có bằng chứng chứng minh đã thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm tra tính chính xác của thông tin.
  • Thông báo trước cho người tiêu dùng về việc mình được tài trợ để cung cấp thông tin về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.

c. Người tiêu dùng dễ bị tổn thương

Khái niệm “người tiêu dùng dễ bị tổn thương” được học hỏi và lấy cảm hứng từ các hệ thống pháp lý của các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia phát triển và các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nơi đã thiết lập các tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong các luật và quy định của họ. Khái niệm này được định nghĩa tại Điều 8.1 nhằm bảo vệ 07 nhóm đối tượng người tiêu dùng có khả năng gặp bất lợi trong giao dịch tiêu dùng, như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ mang thai, hoặc các nhóm dân cư sống ở khu vực xa xôi, khó khăn v.v. Đồng thời, Điều 8 yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh ưu tiên bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng dễ bị tổn thương trong quá trình giao dịch, đảm bảo quyền khiếu nại và giải quyết tranh chấp. Thương nhân phải tiếp nhận và xử lý các yêu cầu bảo vệ từ nhóm này, không được chuyển cho bên thứ ba trừ khi bên thứ ba có trách nhiệm liên quan.

Nếu chậm trễ, từ chối ưu tiên hoặc không chấp nhận yêu cầu, thương nhân phải bồi thường cho người tiêu dùng dễ bị tổn thương theo pháp luật dân sự (Điều 8.2). Thương nhân cũng phải xây dựng và công khai quy trình bảo vệ quyền lợi cho nhóm này, đảm bảo quyền khiếu nại, giải quyết tranh chấp, và thông báo công khai tại trụ sở, địa điểm kinh doanh hoặc trên trang web, ứng dụng (Điều 8.3).

d. Giao dịch đặc thù

So với Luật năm 2010, Luật năm 2023 đã giải thích cụ thể các giao dịch đặc thù (Điều 3.8) nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong bối cảnh 4IR, bao gồm:

  • Giao dịch từ xa: giao dịch qua mạng, phương tiện điện tử hoặc phương tiện khác, trong đó người tiêu dùng không thể kiểm tra trực tiếp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trước khi giao dịch (Điều 3.5);
  • Cung cấp dịch vụ liên tục: cung cấp dịch vụ có thời hạn từ 03 tháng trở lên hoặc không xác định thời hạn như viễn thông, internet, truyền hình cáp v.v. (Điều 3.6);
  • Bán hàng trực tiếp: tổ chức, cá nhân kinh doanh chủ động tiếp cận người tiêu dùng để giới thiệu và bán sản phẩm, dịch vụ thông qua các hình thức: (i) Bán hàng tận cửa: bán sản phẩm, dịch vụ tại nơi ở hoặc làm việc của người tiêu dùng; (ii)Bán hàng đa cấp: bán hàng qua mạng lưới cá nhân với nhiều cấp, nơi người tham gia nhận hoa hồng từ bán hàng của mình và của người khác trong mạng lưới; và (iii) Bán hàng không tại địa điểm giao dịch thường xuyên: bán sản phẩm, dịch vụ tại các địa điểm không phải là cửa hàng bán lẻ cố định (Điều 3.7).

Luật năm 2010, thông qua Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 (“Nghị định 99”) đã từng đưa ra các khái niệm về “Hợp đồng giao kết từ xa”, “Hợp đồng cung cấp dịch vụ liên tục” hay “Bán hàng tận cửa” (Điều 3 Nghị định 99). Tuy nhiên về cơ bản, hệ thống luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũ chỉ tập trung vào các giao dịch truyền thống. Trong khi đó, Luật năm 2023 đã bắt kịp xu thế bằng việc chú trọng đến các giao dịch từ xa và các dịch vụ trực tuyến, đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thời đại số, giúp giảm thiểu rủi ro cho người tiêu dùng khi tham gia vào các giao dịch mà họ không thể kiểm tra trực tiếp sản phẩm hoặc dịch vụ.

e. Hành vi bị nghiêm cấm

Điều 10 Luật năm 2023 đã chi tiết và toàn diện hóa danh mục các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể là bổ sung các hành vi sau đây:

  • Không đền bù, hoàn tiền hoặc đổi lại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng do nhầm lẫn của tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc khi sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không đúng với thông tin đã đăng ký, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu hoặc cam kết.
  • Đánh tráo, gian lận sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khi giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng.
  • Không thông báo trước việc tài trợ cho người có ảnh hưởng để sử dụng hình ảnh, lời khuyên, khuyến nghị nhằm xúc tiến thương mại hoặc khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm, dịch vụ.
  • Ngăn cản người tiêu dùng kiểm tra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • Yêu cầu người tiêu dùng phải mua thêm sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ như là điều kiện bắt buộc để giao kết hợp đồng trái với ý muốn của người tiêu dùng.
  • Quy định điều khoản không hợp pháp trong hợp đồng với người tiêu dùng, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.
  • Thu thập, lưu trữ, sử dụng, chỉnh sửa, cập nhật, hủy bỏ thông tin của người tiêu dùng trái quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Luật năm 2023 còn liệt kê bổ sung các nhóm hành vi bị nghiêm cấm có tính chất đặc thù đối với hình thức bán hàng đa cấp và đối với hoạt động kinh doanh thiết lập, vận hành, cung cấp dịch vụ nền tảng số, cụ thể như sau:

  • Bán hàng đa cấp (Điều 10.2): yêu cầu đặt cọc hoặc mua hàng hóa để tham gia bán hàng đa cấp; cung cấp thông tin gian dối; kinh doanh không có giấy chứng nhận; bán hàng đa cấp đối với dịch vụ hoặc hình thức không phải là mua bán hàng hóa; phát triển mạng lưới không dựa trên giao dịch mua bán hàng hóa. Trong đó, một số hành vi được đề cập tương tự theo Nghị định 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp (“Nghị định 40”);
  • Nền tảng số (Điều 10.3): ép buộc hoặc ngăn cản người tiêu dùng sử dụng nền tảng trung gian khác để như là điều kiện bắt buộc để sử dụng dịch vụ; hạn chế quyền lựa chọn sản phẩm mà không công khai tiêu chí lựa chọn; hiển thị không trung thực các phản hồi, đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm, dịch vụ; ngăn cản đăng ký hoặc hiển thị phản hồi của tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; ngăn cản gỡ bỏ phần mềm hoặc yêu cầu cài đặt phần mềm không cần thiết.

2. Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng

Luật năm 2023 đã củng cố, nâng cao vai trò của người tiêu dùng trong bối cảnh tiêu dùng hiện đại, đồng thời đảm bảo cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của họ. Các quyền mới bao gồm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, bảo vệ thông tin (Điều 4.1), quyền lựa chọn môi trường tiêu dùng lành mạnh và bền vững (Điều 4.9) và quyền được bảo vệ khi sử dụng dịch vụ công theo quy định của pháp luật (Điều 4.10). Bên cạnh đó, Điều 5 bổ sung các nghĩa vụ của người tiêu dùng bao gồm tuân thủ điều kiện, hướng dẫn vận chuyển, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; quy định về kiểm định, bảo vệ môi trường, tiêu dùng bền vững (Điều 5.3) và nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh (Điều 5.5) và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

3. Giao dịch đặc thù

a. Giao dịch từ xa

Khái niệm “giao dịch trên không gian mạng” được đề cập tại “giao dịch từ xa”, trong đó tổ chức, cá nhân kinh doanh trên không gian mạng bao gồm (Điều 39.1 Luật năm 2023):

  • Tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ qua hệ thống thông tin do mình thiết lập hoặc qua nền tảng số;
  • Tổ chức thiết lập, vận hành nền tảng số trung gian.

Mặc dù Luật năm 2023 không định nghĩa “nền tảng số” hoặc “nền tảng số trung gian”, tuy nhiên Luật này tiếp tục đưa ra các quy định liên quan đến các tổ chức, cá nhân kinh doanh, thiết lập, vận hành cung cấp “nền tảng số”, bao gồm liệt kê các hành vi bị cấm (Điều 10.1, Điều 10.3), trách nhiệm đối với người tiêu dùng (Điều 38, Điều 39 Luật năm 2023; Điều 22, Điều 23 Nghị định 55). Ngoài ra, sau này, Nghị định 55 đã bổ sung khái niệm về “nền tảng số lớn” là nền tảng phục vụ giao dịch điện tử đáp ứng một trong các tiêu chí sau (i) có từ 3 triệu tài khoản người dùng hoạt động hàng năm tại Việt Nam và tổ chức, cá nhân kinh doanh phải tự xác định số lượng tài khoản người sử dụng trên nền tảng của mình; (ii) là nền tảng số trung gian quy mô lớn, rất lớn phục vụ giao dịch điện tử.

b. Cung cấp dịch vụ liên tục

Tại Mục 2 Chương III Luật năm 2023, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục và hình thức hợp đồng của loại hình dịch vụ này được quy định lần lượt tại Điều 41 và 42 Luật năm 2023, trong đó nổi bật là:

  • Tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp dịch vụ liên tục tại Việt Nam phải công khai thông tin về đại diện pháp lý tại Việt Nam. Nếu không có đại diện pháp lý, họ phải chỉ định một đại diện ủy quyền và công khai thông tin của đại diện này. Đại diện phải thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, quy định này có thể không rõ ràng trong việc thực thi quy định và tạo ra khó khăn cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khi áp dụng thực tế, cụ thể trong các trường hợp như: áp dụng cho tổ chức có hiện diện thương mại hay tổ chức nước ngoài?; vai trò của đại diện ủy quyền (nhân viên của tổ chức hay chỉ định qua hợp đồng ủy quyền?)v.
  • Tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ liên tục, theo hợp đồng, phải thông báo cho người tiêu dùng về (i) việc nộp phí để tiếp tục sử dụng dịch vụ, tối thiểu 07 ngày làm việc trước khi hết hạn sử dụng dịch vụ; (ii) Thời điểm kết thúc hợp đồng, tối thiểu 07 ngày làm việc trước khi hợp đồng kết thúc.

c. Bán hàng trực tiếp

  i, Bán hàng đa cấp

Luật năm 2023 đưa ra định nghĩa về “bán hàng đa cấp” thuộc loại hình “bán hàng trực tiếp” (Điều 3.7.b) và các nghĩa vụ đối với các tổ chức, cá nhân bán hàng đa cấp. Tuy nhiên, ngoại trừ một số nghĩa vụ mới được quy định tại Điều 45, Luật năm 2023 này cơ bản quy định tương tự như trong Nghị định 40 hiện đang còn hiệu lực. Tuy nhiên, do Luật năm 2023 áp dụng đối với các nhà bán hàng đa cấp trong quan hệ với người tiêu dùng thay vì tất cả các nhà bán hàng đa cấp theo Nghị định 40 nên có khả năng dẫn đến chồng chéo về nghĩa vụ của các nhà bán hàng đa cấp.

  ii, Bán hàng không tại địa điểm giao dịch thường xuyên

Luật năm 2023 quy định khái niệm mới về “bán hàng không tại địa điểm giao dịch thường xuyên” (Điều 3.7.c), bao gồm việc giới thiệu và bán sản phẩm, hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tại các địa điểm không phải là địa điểm cố định, nơi mà sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ được bán hoặc cung cấp thường xuyên.

Theo Điều 47, các tổ chức, cá nhân kinh doanh tại địa điểm không cố định, khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ với tổng giá trị trên 10 triệu đồng, phải tuân thủ:

  • Thông báo với UBND cấp xã: Cung cấp thông tin chi tiết về tổ chức bán hàng với cách thức, hồ sơ và trách nhiệm của UBND được hướng dẫn tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định 55. Mẫu thông báo và mẫu sửa đổi, bổ sung tại Phụ lục 10 và 11 của Nghị định 55.
  • Niêm yết thông tin công khai tại địa điểm bán.
  • Duy trì thông tin liên hệ để giải quyết phản ánh và khiếu nại trong và sau bán hàng.
  • Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về sản phẩm, dịch vụ và tổ chức kinh doanh.
  • Nhận lại hàng hóa, dịch vụ trong vòng 30 ngày nếu còn nguyên tem, nhãn mác, bao bì, và trong hạn sử dụng.
  • Cung cấp hóa đơn, chứng từ cho giao dịch mua bán.
  • Hợp đồng bằng văn bản phải được gửi cho người tiêu dùng, cho phép người tiêu dùng có 03 ngày làm việc để thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng và thông báo lại; trong thời gian này không được yêu cầu người tiêu dùng đặt cọc, thanh toán hoặc thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

4. Phương thức giải quyết tranh chấp

Luật năm 2023 duy trì bốn phương thức giải quyết tranh chấp bao gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài và tố tụng tại tòa án giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh.

a. Thương lượng

Về phương thức thương lượng, Luật năm 2023 bổ sung quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước hoặc tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hỗ trợ thương lượng khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm (Điều 56.3). Quy định bổ sung này nhằm cải thiện phương thức thương lượng trong giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh. Ngoài ra, Luật năm 2023 còn quy định rõ hơn về hình thức thương lượng, cho phép thực hiện trực tuyến phù hợp với xu hướng công nghệ hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi và tiết kiệm thời gian cho các bên liên quan (Điều 54.3); bổ sung quy định chi tiết về thủ tục, thời hạn, và các trách nhiệm của các bên trong thương lượng, nhằm giảm thiểu sự tùy tiện và nâng cao trách nhiệm (Điều 57) và quyền và trách nhiệm của các bên trong thương lượng (Điều 59).

 b. Hòa giải

 Luật năm 2023 không đưa ra khái niệm “hòa giải” như trong Luật năm 2010 mà thay vào đó áp dụng quy định từ các luật khác, như Luật Hòa giải ở cơ sở, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Nghị định về hòa giải thương mại. Luật năm 2023 bổ sung thêm một trường hợp không được hòa giải là vi phạm điều cấm của luật hoặc đạo đức xã hội (Điều 54.2). Hòa giải viên phải đáp ứng các điều kiện về năng lực, phẩm chất đạo đức và kỹ năng hòa giải; đặc biệt, đối với các tranh chấp có yếu tố dân tộc thiểu số, phải có hòa giải viên phù hợp (Điều 64). Luật năm 2023 yêu cầu lập văn bản ghi nhận kết quả hòa giải thành và quy định các nội dung chi tiết của văn bản này. Nếu không đạt kết quả hòa giải thành, không cần lập văn bản (Điều 65); đồng thời có cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành và trách nhiệm thực hiện trong thời hạn đã thỏa thuận (Điều 66). Nhìn chung, những sửa đổi trong Luật năm 2023 làm rõ hơn các quy định về hòa giải, nâng cao hiệu quả và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia.

c. Tòa án

Đối với phương thức giải quyết tại tòa, Luật năm 2023 đã hoàn thiện quy định về thủ tục rút gọn áp dụng cho các vụ án dân sự liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể, các vụ án có giá trị giao dịch dưới 100 triệu VND (khoảng 4,000 USD) (Điều 70.2) sẽ được giải quyết theo thủ tục rút gọn mà không cần phải đáp ứng các điều kiện theo Điều 317.1 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tiền bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích công cộng, nếu không xác định được đối tượng thụ hưởng, sẽ được sử dụng cho các hoạt động chung vì quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Chính phủ hoặc nộp vào ngân sách nhà nước (Điều 73.2 Luật năm 2023). Nếu tổ chức xã hội tham gia khởi kiện ở phạm vi từ hai tỉnh, thành phố trở lên, tiền bồi thường sẽ nộp vào ngân sách trung ương; nếu chỉ ở một tỉnh, thành phố, tiền bồi thường sẽ nộp vào ngân sách địa phương (Điều 28 Nghị định 55). Các điều chỉnh này đã góp phần củng cố vai trò của các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời tạo cơ chế công bằng và minh bạch trong việc sử dụng tiền bồi thường thiệt hại.

 B. KẾT LUẬN

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 và Nghị định số 55/2023/NĐ-CP đã thể hiện bước đổi mới quan trọng trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam. Được ban hành trong bối cảnh 4IR với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và các giao dịch điện tử đã tác động sâu rộng đến quyền lợi người tiêu dùng, hai văn bản này đã ghi nhận nhiều điểm tiến bộ so với các quy định trước đây.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 đã mở rộng phạm vi bảo vệ, đặc biệt là quyền lợi của người tiêu dùng trong các giao dịch trực tuyến và thương mại điện tử trong khi các quy định trước chủ yếu tập trung vào giao dịch truyền thống. Luật năm 2023 đã quy định rõ hơn về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ và bảo đảm chất lượng, an toàn cho người tiêu dùng; tăng cường vai trò của các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, góp phần tạo dựng niềm tin để họ có điều kiện tiếp cận với sự trợ giúp pháp lý khi quyền lợi bị xâm phạm. Luật năm 2023 yêu cầu các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ hoặc hàng hóa phải bảo đảm tính minh bạch trong thông tin, đồng thời có trách nhiệm trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của người tiêu dùng, tránh các hành vi xâm phạm quyền riêng tư, bắt kịp xu hướng bảo mật thông tin trong một thế giới số hóa ngày một phát triển.

Bên cạnh đó, Nghị định số 55/2023/NĐ-CP đã bổ sung các cơ chế thực thi và điều chỉnh chi tiết các vấn đề như giải quyết khiếu nại, tranh chấp và các biện pháp xử lý vi phạm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nghị định này đã làm rõ hơn các quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ và giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng cũng như quy định liên quan đến việc giải quyết khiếu nại và tranh chấp trong các giao dịch trực tuyến.

Tổng thể, việc nâng cấp hệ thống luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong năm 2023 đã thể hiện sự đồng hành của pháp luật với sự phát triển của nền kinh tế số, là bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phù hợp với các thay đổi mạnh mẽ trong kỷ nguyên 4IR.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 08, 2024 – LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ 2023

Phát hành 08/ 2024

Lê Hồng Phong
Luật sư Thành viên

Nguyễn Hoàng Quân
Luật sư Cộng sự Cấp cao

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, các giao dịch điện tử ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng. Điều này đòi hỏi cần có một hành lang pháp lý chặt chẽ nhằm bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia giao dịch điện tử. Chính vì thế, Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 đã được ban hành ngày 23 tháng 06 năm 2023 và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07 năm 2024 với nhiều quy định mới và điều chỉnh quan trọng không chỉ mở rộng khung pháp lý hiện hành mà còn tạo điều kiện thuận lợi và an toàn hơn cho các bên tham gia vào các giao dịch điện tử. Với việc chú trọng đến bảo vệ dữ liệu cá nhân, xác thực và chữ ký điện tử, cũng như các quy định chi tiết về hợp đồng điện tử, luật mới hứa hẹn sẽ mang lại nhiều thay đổi tích cực. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng điểm qua những thay đổi đáng chú ý của Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 cùng những tác động và lưu ý pháp lý đối với doanh nghiệp và cá nhân.

A. CÁC ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ NĂM 2023

1. Chữ ký điện tử

Một trong những điểm nhấn của Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 là quy định về chữ ký điện tử. Để đảm bảo tính pháp lý và bảo mật, chữ ký điện tử phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nhất định như: tiêu chuẩn an ninh, tiêu chuẩn xác thực, tiêu chuẩn về khả năng truy vết và tiêu chuẩn về tính pháp lý của chữ ký điện tử. So với các quy định trước đây, những điểm mới này đã góp phần nâng cao tiêu chuẩn an ninh khi đưa ra yêu cầu rõ ràng về việc sử dụng xác thực hai yếu tố và các thuật toán mã hóa mạnh, tăng cường bảo mật cho chữ ký điện tử. Quy định này cũng góp phần giúp cho việc xác thực danh tính nghiêm ngặt hơn khi yêu cầu chữ ký điện tử phải được xác thực bởi các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực đã được cấp phép, với quy trình xác thực danh tính nghiêm ngặt. Đồng thời, quy định tại Luật Giao dịch điện tử năm 2023 cũng tạo ra khả năng truy vết tốt hơn của chữ ký điện tử khi hệ thống ký điện tử theo quy định mới phải có khả năng ghi nhận và lưu trữ lịch sử các lần ký kết, đảm bảo tính minh bạch và khả năng kiểm tra lại. Cuối cùng, quy định mới khẳng định rõ ràng chữ ký điện tử có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký tay, được chấp nhận làm chứng cứ trước tòa án. Cùng với các quy định mới liên quan tới chữ ký điện tử, Luật Giao dịch điện tử cũng quy định rõ các tổ chức cung cấp dịch vụ chữ ký điện tử phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, và chữ ký điện tử phải được xác thực bởi các tổ chức này để có giá trị pháp lý tương đương với chữ ký tay.

2. Bảo vệ Dữ liệu và Quyền riêng tư

a. Quản lý dữ liệu

Luật Giao Dịch Điện Tử năm 2023 đặt ra các quy định nghiêm ngặt về việc thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu cá nhân nhằm bảo vệ quyền riêng tư của người dùng:

  • Thu Thập Dữ Liệu: Các tổ chức, doanh nghiệp chỉ được thu thập dữ liệu cá nhân khi có sự đồng ý rõ ràng của người dùng, trừ những trường hợp pháp luật cho phép.
  • Lưu Trữ Dữ Liệu: Dữ liệu cá nhân phải được lưu trữ một cách an toàn, sử dụng các biện pháp mã hóa và bảo mật để ngăn chặn truy cập trái phép, mất mát hoặc rò rỉ dữ liệu.
  • Xử Lý Dữ Liệu: Việc xử lý dữ liệu cá nhân phải tuân thủ các nguyên tắc bảo mật và chỉ được thực hiện cho các mục đích đã được người dùng chấp thuận.

b. Quyền của Người Dùng

Người dùng có quyền truy cập, chỉnh sửa và yêu cầu xóa bỏ dữ liệu cá nhân của mình. Các doanh nghiệp phải cung cấp cơ chế rõ ràng và thuận tiện để người dùng thực hiện các quyền này, đảm bảo rằng dữ liệu cá nhân được quản lý và bảo vệ một cách chặt chẽ.

3. Hợp Đồng Điện Tử

Các quy định về hợp đồng điện tử đã có từ Luật Giao dịch điện tử 2005, tuy nhiên, việc giao kết hợp đồng điện tử hiện nay vẫn còn khá hạn chế. Điều này một phần xuất phát từ việc thiếu các quy định cụ thể để hướng dẫn việc giao kết hợp đồng điện tử. Không những vậy, việc giao kết hợp đồng điện tử trước đây do các bên thỏa thuận và rất khó để bảo đảm tính toàn vẹn của hợp đồng mà các bên đã giao kết. So với các quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 tập trung thiết lập cơ sở pháp lý cho việc công nhận hợp đồng điện tử có giá trị tương đương với hợp đồng giấy, bao gồm các quy định về nội dung và hình thức hợp đồng, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 mở rộng và chi tiết hóa các quy định về hợp đồng điện tử, bao gồm các yêu cầu về ghi nhận và lưu trữ lịch sử giao dịch, bảo vệ tính toàn vẹn dữ liệu và cơ chế giải quyết tranh chấp.

a. Hình Thức và Nội Dung

Hợp đồng điện tử phải được thể hiện dưới dạng văn bản điện tử và phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung tương tự như hợp đồng giấy truyền thống. Điều này bao gồm các điều khoản cơ bản, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như các điều khoản về giải quyết tranh chấp.

b. Chứng Cứ Pháp Lý

Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý tương đương với hợp đồng giấy và có thể được sử dụng làm chứng cứ trước tòa án. Điều này yêu cầu các bên phải tuân thủ quy trình ký kết và lưu trữ hợp đồng điện tử một cách chặt chẽ để đảm bảo tính pháp lý.

Chứng Cứ Pháp Lý: Hợp đồng điện tử có giá trị pháp lý tương đương với hợp đồng giấy và có thể được sử dụng làm chứng cứ trước tòa án. Điều này yêu cầu các bên phải tuân thủ quy trình ký kết và lưu trữ hợp đồng điện tử một cách chặt chẽ để đảm bảo tính pháp lý.

B. TÁC ĐỘNG CỦA LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ VÀ CÁC ĐIỂM PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý DÀNH CHO CÁ NHÂN VÀ TỔ CHỨC

Khi Luật Giao dịch điện tử năm 2023 có hiệu lực cùng với bối cảnh nền kinh tế số ngày càng phát triển, các doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư vào các giải pháp công nghệ bảo mật, bao gồm hệ thống xác thực hai yếu tố, mã hóa dữ liệu và hệ thống quản lý chữ ký điện tử. Việc này không chỉ giúp tuân thủ các quy định pháp luật mà còn bảo vệ doanh nghiệp khỏi các rủi ro về an ninh mạng. Đồng thời, doanh nghiệp cần xây dựng và duy trì các chính sách bảo vệ dữ liệu, đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo mật và quyền riêng tư của khách hàng. Điều này bao gồm việc đào tạo nhân viên về các quy định mới và các biện pháp bảo mật cần thiết.

Đối với các cá nhân, mọi người cần nâng cao nhận thức về việc bảo vệ thông tin cá nhân trực tuyến. Điều này bao gồm việc sử dụng các biện pháp bảo mật như xác thực hai yếu tố, không chia sẻ thông tin cá nhân qua các kênh không an toàn và thường xuyên kiểm tra các quyền truy cập vào dữ liệu cá nhân của mình. Người dùng cần hiểu rõ quyền của mình trong việc truy cập, chỉnh sửa và xóa bỏ dữ liệu cá nhân, cũng như biết cách yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện các quyền này. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi cá nhân và đảm bảo dữ liệu cá nhân được quản lý một cách an toàn.

KẾT LUẬN

Luật Giao Dịch Điện Tử Việt Nam năm 2023 đưa ra các quy định rõ ràng và chi tiết nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch điện tử, đồng thời tạo ra một môi trường kinh doanh số an toàn và minh bạch. Các quy định mới về xác thực danh tính, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, chữ ký điện tử và hợp đồng điện tử không chỉ đảm bảo tính pháp lý của các giao dịch mà còn nâng cao niềm tin của người dùng vào các hoạt động trực tuyến. Doanh nghiệp và cá nhân cần tuân thủ và thực hiện đầy đủ các quy định này để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong các giao dịch điện tử, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế số Việt Nam.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 08, 2024 – CÁC QUY ĐỊNH MỚI CỦA LUẬT NHÀ Ở 2023 TRONG VIỆC QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NHÀ CHUNG CƯ

Phát hành 08/ 2024

Hà Thị Hải
Luật sư Thành viên

Nguyễn Trần Liên Liên
Luật sư Cộng sự 

Ngày 29 tháng 06 năm 2024, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật số 43/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, trong đó nổi bật có nội dung Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2023 (“Luật Nhà ở 2023”) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024, tức sớm hơn 05 tháng so với thời điểm có hiệu lực trước đó quy định tại Luật Nhà ở 2023. Với kỳ vọng và yêu cầu của Quốc hội về việc khắc phục các tồn đọng của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014 (“Luật Nhà ở 2014”), Luật Nhà ở 2023 đã luật hóa một số quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành và bổ sung nhiều quy định rõ ràng hơn trong việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng nhà ở. Liên quan đến việc quản lý và sử dụng nhà chung cư, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung các quy định mới như sau:

Thứ nhất, Luật Nhà ở 2014 chỉ quy định cấm các hành vi liên quan đến việc sử dụng sai mục đích nhà chung cư và lấn chiếm không gian chung, Luật Nhà ở 2023 đã có nhóm các quy định cụ thể về các hành vi cấm trong việc quản lý và sử dụng nhà chung cư với nhiều hành vi cấm được bổ sung.

So với Luật Nhà ở 2014, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung nhiều quy định cấm mới nhằm tăng cường quản lý và bảo vệ môi trường sống của cư dân, cụ thể, Luật Nhà ở 2023 đã ghi nhận việc không đóng kinh phí bảo trì và sử dụng không đúng kinh phí quản lý vận hành và kinh phí bảo trì là những hành vi bị nghiêm cấm. Quy định này đảm bảo các quỹ tài chính cần thiết cho việc bảo trì và vận hành nhà chung cư được thu và sử dụng đúng mục đích, giúp duy trì chất lượng và an toàn của công trình, bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu nhà chung cư tuân thủ quy định khác. Luật Nhà ở 2023 đồng thời nghiêm cấm các hành vi gây ảnh hưởng đến trật tự và cảnh quan nhà chung cư, bao gồm việc sơn, trang trí mặt ngoài không đúng quy định về thiết kế, kiến trúc, hay việc chăn, thả gia súc, gia cầm, giết mổ gia súc trong khu vực nhà chung cư, góp phần bảo vệ môi trường sống chung, đảm bảo trật tự và mỹ quan, tạo ra môi trường sống văn minh và sạch đẹp cho tất cả chủ sở hữu nhà chung cư.

Ngoài ra, Luật Nhà ở 2023 còn nghiêm cấm hành vi chia tách căn hộ chung cư khi không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (“CQNN”) cho phép. Quy định cấm này giúp bảo đảm an toàn kết cấu của nhà chung cư, đảm bảo tính đồng bộ trong quy hoạch, tránh gây ra tình trạng quá tải cho cơ sở hạ tầng và các vấn đề an toàn khác trong quá trình sử dụng nhà chung cư.

Thứ hai, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung một số quy định cụ thể trong việc đầu tư xây dựng chỗ để xe của nhà chung cư, cũng như đã luật hóa một số quy định trong Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư để bảo đảm tính pháp lý trong áp dụng và thực hiện.

Thiết kế nhà chung cư phải phân định khu vực dành cho từng loại xe: Trong khi Luật Nhà ở 2014 chỉ quy định chung về việc đảm bảo xây dựng chỗ để xe theo quy chuẩn xây dựng và thiết kế được phê duyệt, Luật Nhà ở 2023 đã luật hóa quy định trong Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư khi bổ sung quy định cụ thể về việc chỗ để xe có thể được bố trí tại tầng hầm hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đồng thời, Luật Nhà ở 2023 bổ sung thêm yêu cầu chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà chung cư (“CĐT”) phải thực hiện phân định rõ ràng từng khu vực dành cho từng loại xe trong thiết kế nhà chung cư. Yêu cầu cụ thể này đảm bảo để CQNN có đánh giá đầy đủ và chính xác hơn về chất lượng và an toàn của công trình, đánh giá được mức độ ảnh hưởng của dự án nhà chung cư đối với hệ thống giao thông của khu vực xung quanh nhà chung cư, tránh việc CĐT thay đổi mục đích sử dụng của từng khu vực trong chỗ để xe trái với thiết kế đã được phê duyệt và đảm bảo quyền sở hữu, sử dụng chung của các chủ sở hữu nhà chung cư đối với chỗ để xe (ngoài chỗ để xe ô tô).

Quy định về khu vực sạc điện: Ngoài quy định bố trí khu vực riêng biệt cho từng loại xe, việc bổ sung quy định yêu cầu khu vực sạc điện cho xe động cơ điện được bố trí theo tiêu chuẩn quy chuẩn xây dựng là điểm mới đáng chú ý, thể hiện sự chuẩn bị của Luật Nhà ở 2023 đối với sự phát triển của các công nghệ mới, đáp ứng nhu cầu và xu hướng sử dụng xe điện ngày càng tăng của xã hội. Tuy nhiên, quy định việc bố trí khu vực sạc điện này của Luật Nhà ở 2023 lại không đề cập rõ ràng có yêu cầu bắt buộc tất cả thiết kế nhà chung cư phải có khu vực sạc điện hay không. Trước thực trạng người dân sạc điện cho xe động cơ điện tuỳ tiện, không đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, và nhiều vụ hoả hoạn bắt nguồn từ cháy nổ do sạc điện xe động cơ điện trong thời gian gần đây, việc có các hướng dẫn cụ thể rõ ràng tiêu chuẩn thiết kế khu vực sạc điện tại toà nhà chung cư là rất cấp thiết. Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng và công bố 11 Tiêu chuẩn Việt Nam về trạm sạc xe điện (gồm 9 tiêu chuẩn về trạm sạc và 2 tiêu chuẩn về hoàn đổi pin xe điện), và đồng thời, Bộ Khoa học và Công nghệ đang dự thảo sửa đổi các quy định pháp luật và xây dựng bổ sung thêm 18 tiêu chuẩn khác liên quan đến trạm sạc xe điện và các thiết bị điện liên quan (như được đề cập trong Công văn số 149/BKHCN-TĐC ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Bộ Khoa học và Công nghệ). Đây sẽ là cơ sở để các CĐT thực hiện và tuân thủ trong việc xây dựng và thiết kế khu vực sạc điện trong nhà chung cư, nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản và tính mạng của các cư dân sinh sống trong khu vực nhà chung cư.

Công khai chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe ô tô: Luật Nhà ở 2023 quy định rõ ràng về việc trong trường hợp người mua căn hộ không mua hoặc không thuê chỗ để xe ô tô, chỗ để xe ô tô này thuộc quyền quản lý của CĐT và CĐT không được tính vào giá bán căn hộ chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe ô tô. Đồng thời, Luật Nhà ở 2023 yêu cầu CĐT phải công khai chi phí đầu tư xây dựng chỗ để xe ô tô, nhằm mục đích giúp người mua hiểu rõ cấu phần giá bán căn hộ mà mình chi trả có bao gồm chi phí xây dựng chỗ để xe ô tô hay không. Quy định này giúp khắc phục tình trạng thực tế CĐT của một số dự án nhà ở xác định chỗ để xe ô tô thuộc sở hữu riêng của CĐT nhưng không rõ ràng trong việc có phân bổ chi phí đầu tư xây dựng chỗ để ô tô vào giá bán căn hộ cho người mua hay không. Tuy nhiên, quy định này cần hướng dẫn cụ thể hơn về thời điểm, cũng như phương thức để CĐT công khai chi phí xây dựng chỗ để xe ô tô, đảm bảo để người mua nắm được trước khi quyết định ký kết hợp đồng mua bán căn hộ.

Thứ ba, Luật Nhà ở 2023 bổ sung cách xác định diện tích lô gia trong việc xác định diện tích sử dụng căn hộ, phần diện tích khác trong nhà chung cư.

Theo đó, diện tích lô gia được tính toàn bộ diện tích sàn từ mép trong của tường chung hoặc tường bao căn hộ. Quy định cụ thể này giúp xác định cách thức tính chính xác diện tích lô gia trong căn hộ, hạn chế sự không rõ ràng trong quy định để các CĐT mập mờ trong cách thức tính, làm tăng diện tích căn hộ khi xác định giá bán hoặc giá thuê mua của nhà chung cư.

Đồng thời tại quy định này, Luật Nhà ở 2023 quy định rõ ràng về quyền sở hữu đối với trang thiết bị, cấu kiện gắn liền với ban công, lô gia của căn hộ chung cư. Trong trường hợp trang thiết bị, cấu kiện gắn liền với ban công, lô gia nhưng thuộc mặt đứng của công trình theo hồ sơ thiết kế thì trang thiết bị, cấu kiện đó được xác định thuộc phần sở hữu chung của nhà chung cư. Đây là quy định tạo thuận lợi cho CĐT cũng như người mua trong việc xác định rõ ràng phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung khi trang thiết bị được gắn vào phần sở hữu riêng, hạn chế sự không rõ ràng tại Luật Nhà ở 2014 khi quy định phần sở hữu riêng bao gồm hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ hoặc gắn liền với phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng.

Thứ tư, Luật Nhà ở 2023 đã loại bỏ thêm một số chi phí khỏi giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư so với Luật Nhà ở 2014.

Luật Nhà ở 2023 bổ sung thêm việc loại trừ khỏi giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư hai loại phí bao gồm (i) kinh phí mua bảo hiểm cháy, nổ, và (ii) thù lao cho Ban quản trị nhà chung cư. Quy định mới này dường như nhằm mục đích tách bạch rõ ràng giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư và các khoản chi phục vụ hoạt động của Ban quản trị nhà chung cư, theo đó thù lao Ban quản trị nhà chung cư sẽ được Hội nghị nhà chung cư quyết định việc đóng góp riêng, và tránh ảnh hưởng tới việc quyết định, đóng góp và sử dụng phí dịch vụ quản lý vận hành và tránh các tranh chấp có thể xảy ra liên quan đến giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư.

Luật Nhà ở 2023 đồng thời bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc ban hành khung giá dịch vụ quản lý vận hành nhà chung cư để làm cơ sở cho các bên tham khảo. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được về giá dịch vụ thì sẽ áp dụng giá trong khung giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.

Thứ năm, Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung quy định cụ thể về việc bàn giao công trình hạ tầng khu vực có nhà chung cư.

Luật Nhà ở 2014 không có quy định về vấn đề bàn giao công trình hạ tầng, cũng như thời điểm và cách thức bàn giao các công trình trình hạ tầng từ CĐT cho CQNN. Luật Nhà ở 2023 đã bổ sung quy định cụ thể về vấn đề này. Theo đó, trong trường hợp phải bàn giao công trình hạ tầng theo thiết kế/chủ trương dự án được phê duyệt, công trình hạ tầng phải được bàn giao cho CQNN sau khi có nghiệm thu công trình và theo đề nghị của CĐT. Quá trình bàn giao và tiếp nhận phải được ghi nhận bằng văn bản giữa CĐT và CQNN. Quy định tại Điều 157 và 158 Luật Nhà ở 2023 đồng thời xác định rõ ràng về trách nhiệm bảo trì công trình hạ tầng kỹ thuật, theo đó, trường hợp công trình hạ tầng kỹ thuật chưa được bàn giao cho CQNN, CĐT vẫn phải bảo trì, quản lý và vận hành theo nội dung dự án đã được phê duyệt, đảm bảo công trình không gây ảnh hưởng xấu đến cộng đồng và môi trường sống của cư dân nhà chung cư.

Các nội dung trên đây là một số thay đổi đáng chú ý của Luật Nhà ở 2023 trong vấn đề quản lý và sử dụng nhà chung cư, góp phần tăng cường sự rõ ràng và minh bạch trong quản lý nhà chung cư, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan, góp phần xây dựng môi trường sống tốt đẹp, an toàn và bền vững cho cư dân theo đúng định hướng của Quốc hội khi xây dựng và ban hành Luật Nhà ở 2023. Tuy nhiên, để các quy định mới này được áp dụng hiệu quả trên thực tế và phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam thì còn cần các hướng dẫn thi hành cụ thể của Chính phủ và các Bộ, ngành quản lý có liên quan trong thời gian tới.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 03, 2024 – Việt Nam – Các yêu cầu tuân thủ trọng yếu về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Phát hành 03/ 2024

Nguyễn Anh Tuấn
Luật sư Điều hành

Phan Thị Minh
Luật sư Cộng sự Cấp cao

Lời mở đầu:

“Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023, các hành vi liên quan đến dữ liệu cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam, sử dụng không gian mạng, thiết bị, phương tiện điện tử, hoặc các hình thức khác để chuyển dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam tới một địa điểm nằm ngoài lãnh thổ của Việt Nam hoặc sử dụng một địa điểm nằm ngoài lãnh thổ của Việt Nam để xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Na, sẽ phải tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân được quy định trong Nghị định 13 của Chính Phủ.

Một trong những văn bản quy phạm pháp luật mới nhất và cơ bản nhất điều chỉnh về vấn đề bảo vệ dữ liệu cá nhân tại Việt Nam là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP (“Nghị định 13”). Sau một thời gian chờ đợi khá dài, Nghị định 13 đã được Chính phủ ban hành vào ngày 17/4/2023.

Nghị định 13 đã đặt ra các yêu cầu mới liên quan đến việc bảo vệ dữ liệu cá nhân cho bất kỳ tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân tại Việt Nam. Các yêu cầu này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2023, ngoại trừ yêu cầu về chỉ định cá nhân và/hoặc bộ phận bảo vệ dữ liệu cá nhân  có thể được miễn trừ 02 năm kể từ khi thành lập cho các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, và doanh nghiệp khởi nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp cần kiểm tra lại các chính sách bảo mật nội bộ và thực tiễn tuân thủ của mình để nhận diện các nội dung chưa tuân thủ Nghị định 13 và tiến hành ngay lập tức các biện pháp khắc phục để đảm bảo tuân thủ Nghị định 13.

Dưới đây là các yêu cầu tuân thủ trọng yếu về bảo vệ cá nhân trong Nghị định 13.

1. Xác định vai trò của doanh nghiệp trong quá trình xử lý dữ liệu cá nhân

Nghị định 13 phân biệt rõ ràng giữa các vai trò khác nhau của các bên liên quan trong việc xử lý dữ liệu và quy định trách nhiệm tương ứng đối với từng vai trò. Cụ thể:

Bên Kiểm Soát Dữ Liệu là một tổ chức, cá nhân quyết định mục đích và phương tiện xử lý dữ liệu cá nhân. Bên Kiểm Soát Dữ Liệu có trách nhiệm cao nhất trong việc tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ dữ liệu, bao gồm việc phải có được sự đồng ý trước của chủ thể dữ liệu cho tất cả các hoạt động xử lý dữ liệu, tiếp nhận các yêu cầu của chủ thể dữ liệu và thực hiện thông báo về bất kỳ hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân nào cho Bộ Công An (“BCA”).

Bên Xử Lý Dữ Liệu là một tổ chức hoặc cá nhân thực hiện việc xử lý dữ liệu cá nhân thay mặt cho Bên Kiểm Soát Dữ Liệu thông qua một hợp đồng với Bên Kiểm Soát Dữ Liệu. Bên Xử Lý Dữ Liệu chịu trách nhiệm thông báo cho Bên Kiểm Soát Dữ Liệu về bất kỳ vi phạm dữ liệu cá nhân nào và xử lý dữ liệu cá nhân theo đúng hợp đồng đã ký kết với Bên Kiểm Soát Dữ Liệu.

Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu là kết hợp giữa vai trò của Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Xử Lý Dữ Liệu.

Bên Thứ Ba là các cá nhân hoặc tổ chức ngoài chủ thể dữ liệu, Bên Kiểm Soát Dữ Liệu, Bên Xử Lý Dữ Liệu hoặc Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu được phép xử lý dữ liệu cá nhân. Bên Thứ Ba có trách nhiệm lưu trữ dữ liệu cá nhân theo hình thức phù hợp với hoạt động của mình và có biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.

Theo đó, việc xác định chính xác vai trò của doanh nghiệp trong việc xử lý dữ liệu cá nhân là rất quan trọng để có thể xác định trách nhiệm của mình trong quá trình xử lý dữ liệu cá nhân.

2. Phải có được sự đồng ý của chủ thể dữ liệu

Nghị định 13 yêu cầu tất cả các hoạt động trong quy trình xử lý dữ liệu phải có được sự đồng ý trước của chủ thể dữ liệu, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Sự đồng ý của chủ thể dữ liệu chỉ có hiệu lực khi (i) được đưa ra một cách tự nguyện và (ii) chủ thể dữ liệu biết rõ các thông tin về loại dữ liệu cá nhân, mục đích xử lý dữ liệu, các bên được xử lý dữ liệu và quyền, nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu. Lưu ý rằng, sự đồng ý phải được thể hiện bằng văn bản, giọng nói, đánh dấu vào ô đồng ý, cú pháp đồng ý qua tin nhắn, chọn các thiết lập kỹ thuật đồng ý hoặc qua một hành động khác thể hiện được điều này.

Sự im lặng hoặc không phản hồi của chủ thể dữ liệu không được coi là là sự đồng ý. Trong trường hợp có tranh chấp, trách nhiệm chứng minh sự đồng ý của chủ thể dữ liệu thuộc về Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu.

3. Đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân

Tất cả Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu phải lập và lưu giữ hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân của mình (“Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động”) kể từ thời điểm bắt đầu xử lý dữ liệu cá nhân. Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động phải được gửi cho Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) trong thời gian 60 ngày kể từ ngày tiến hành xử lý dữ liệu cá nhân để A05 xem xét và phải luôn có sẵn để BCA kiểm tra, đánh giá.

Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động phải bao gồm:

  • Thông tin của Bên Kiểm Soát Dữ Liệu, Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu và nhân viên bảo vệ dữ liệu của bên đó;
  • Mục đích và loại dữ liệu cá nhân được xử lý;
  • Bên nhận dữ liệu cá nhân, bao gồm các tổ chức, cá nhân ngoài lãnh thổ Việt Nam;
  • Trường hợp chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài;
  • Thời gian xử lý dữ liệu cá nhân, thời gian dự kiến để xoá, huỷ dữ liệu cá nhân (nếu có);
  • Mô tả về các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân được áp dụng;
  • Đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc xử lý dữ liệu cá nhân; hậu quả, thiệt hại không mong muốn có khả năng xảy ra, các biện pháp giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ, tác hại đó.

Bên Xử Lý Dữ Liệu cũng có thể phải tiến hành lập và lưu giữ Hồ Sơ Đánh Giá Tác Động nếu hợp đồng ký kết với Bên Kiểm Soát Dữ Liệu có yêu cầu.

4. Chuyển dữ liệu cá nhân qua nước ngoài

Nghị định 13 cho phép bên chuyển dữ liệu ra nước ngoài (bao gồm Bên Kiểm Soát Dữ Liệu, Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu, Bên Xử Lý Dữ Liệu và Bên Thứ Ba) chuyển dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam sang nước thứ ba, tuy nhiên phải tuân theo các yêu cầu sau:

  • Bên chuyển dữ liệu phải chuẩn bị hồ sơ đánh giá tác động chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài. Hồ sơ phải bao gồm các nội dung bắt buộc như: Mô tả loại dữ liệu cá nhân chuyển ra nước ngoài, mô tả và luận giải mục tiêu của các hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam, văn bản thể hiện sự ràng buộc, trách nhiệm giữa bên chuyển và bên nhận dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam về việc xử lý dữ liệu cá nhân.
  • Hồ sơ đánh giá tác động xử lý dữ liệu cá nhân phải luôn có sẵn để BCA kiểm tra, đánh giá. Bên chuyển dữ liệu gửi bản chính hồ sơ đánh giá tác động tới BCA theo mẫu quy định trong thời gian 60 ngày kể từ ngày tiến hành xử lý dữ liệu cá nhân. BCA có thể yêu cầu bên chuyển hoàn thiện hồ sơ đánh giá tác động trong trường hợp hồ sơ không đúng quy định.
  • Khi việc chuyển dữ liệu diễn ra thành công, bên chuyển dữ liệu phải gửi thông báo bằng văn bản cho BCA về việc chuyển dữ liệu và và chi tiết liên lạc của bên phụ trách.

BCA có quyền quyết định ngừng chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài nếu bên chuyển không chấp hành các yêu cầu nêu trên hoặc vi phạm lợi ích, an ninh quốc gia của Việt Nam hoặc để xảy ra sự cố lộ, mất dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam.

5. Yêu cầu về thông báo vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân

Trong trường hợp phát hiện ra bất kỳ vi phạm quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân nào, (i) Bên Xử Lý Dữ Liệu phải thông báo ngay cho Bên Kiểm Soát Dữ Liệu về vi phạm xảy ra và (ii) Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu phải thông báo cho BCA (A05) chậm nhất 72 giờ sau khi xảy ra hành vi vi phạm. Việc  thông báo phải được thực hiện theo mẫu quy định với các nội dung bắt buộc. Trong trường hợp thông báo sau 72 giờ, Bên Kiểm Soát Dữ Liệu và Bên Kiểm Soát Và Xử Lý Dữ Liệu phải cung cấp lý do thông báo chậm, muộn.

Hiện chưa có một văn bản pháp luật nào tổng hợp các quy định về việc xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân tại thời điểm có hiệu lực của Nghị định 13. Tuy nhiên, có một số quy định về một số biện pháp xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về thu thập, sử dụng, cập nhật, sửa đổi, gỡ bỏ thông tin cá nhân và bảo đảm an toàn thông tin cá nhân trên không gian mạng, với mức phạt hành chính từ 10 triệu đến 70 triệu VNĐ hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ Luật Hình Sự đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng.

Tổng quan

Các yêu cầu được quy định trong Nghị định 13 đã gây ra sự khó khăn đáng kể cho các bên liên quan trong việc xử lý dữ liệu cá nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp đa quốc gia. Do các quy định này còn khá tổng quát, chúng tôi mong đợi rằng BCA sẽ ban hành thêm các văn bản hướng dẫn, giải thích và thực thi các quy định tại Nghị định 13.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 02, 2024 – QUY ĐỊNH HƯỚNG DẪN VỀ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP CHÀO BÁN RIÊNG LẺ TẠI THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Phát hành Tháng 02/2024

Nguyễn Thu Huyền
Luật sư Thành viên

Nguyễn T. Thu Hà
Luật sư Cộng sự Cấp cao

Hiện nay, trái phiếu doanh nghiệp được điều chỉnh bởi Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế, được sửa bổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2022/NĐ-CP và Nghị định số 08/2023/NĐ-CP (“Ngh Đnh 153”).

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 30/2023/TT-BTC hướng dẫn việc đăng ký, lưu ký, thực hiện quyền, chuyển quyền sở hữu, thanh toán giao dịch và tổ chức thị trường giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước ( “Thông Tư 30”). Thông Tư 30 đặc biệt hướng dẫn cho các trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ (“Trái Phiếu”) được phát hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 theo Nghị Định 153.  Việc lưu ký và giao dịch các Trái Phiếu phát hành trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 còn dư nợ sẽ tiếp tục được thực hiện theo phương án phát hành trái phiếu đã được phê duyệt, chấp thuận.

1. Các nguyên tắc chung

Thông Tư 30 đưa ra 08 nguyên tắc chung để đăng ký, lưu ký, thực hiện quyền, chuyển quyền sở hữu Trái Phiếu. Một số nguyên tắc đáng lưu ý như sau:

  1. Trái Phiếu phải được đăng ký và lưu ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam.
  2. Doanh nghiệp phát hành, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam, thành viên lưu ký chịu trách nhiệm thực hiện quyền cho người sở hữu trái phiếu theo quy định tại Luật Chứng khoán và các quy định pháp luật có liên quan.
  3. Doanh nghiệp phát hành phải đăng ký giao dịch trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trên hệ thống giao dịch Trái Phiếu.
  4. Các giao dịch trên hệ thống giao dịch Trái Phiếu được thanh toán qua hệ thống thanh toán giao dịch Trái Phiếu theo phương thức thanh toán tức thời theo từng giao dịch, không áp dụng theo cơ chế đối tác bù trừ trung tâm.

2. Tài khoản để thực hiện giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ

Đây là một quy định mới về việc nhà đầu tư phải mở tài khoản giao dịch tại thành viên giao dịch để thực hiện giao dịch trái phiếu.

Trường hợp nhà đầu tư đã có tài khoản giao dịch chứng khoán cơ sở mở tại thành viên giao dịch, nhà đầu tư được phép sử dụng tài khoản giao dịch chứng khoán này để thực hiện giao dịch Trái Phiếu. Trước khi mua Trái Phiếu, nhà đầu tư phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và phải ký văn bản xác nhận theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Công ty chứng khoán là thành viên giao dịch chịu trách nhiệm xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, đảm bảo nhà đầu tư thuộc đúng đối tượng mua trái trước khi nhập lệnh vào hệ thống giao dịch Trái Phiếu.

3. Bán trái phiếu qua hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

Thông Tư 30 đặc biệt mở ra một chiếc “phao” để cứu trái chủ trong tình trạng hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp phát hành không thể trả nợ gốc và lãi cho Trái Phiếu. Nhà đầu tư có thể tự chào bán trái phiếu qua hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội để lấy lại tiền. Vậy điều kiện để nhà đầu tư có thể tự chào bán Trái Phiếu của mình là gì?

Đầu tiên, tổ chức phát hành phải đăng ký Trái Phiếu tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam. Thứ hai, Trái Phiếu phải được lưu ký tập trung tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thông qua một công ty chứng khoán trước khi tiến hành giao dịch. Thứ ba, cũng là bước quan trọng nhất là phải có người dự định mua lại Trái Phiếu.

Trường hợp đáp ứng các điều kiện này, các bên có thể giao dịch trên hệ thống và tự thoả thuận, thống nhất nội dung giao dịch. Giao dịch theo phương thức thỏa thuận được xác lập khi bên mua hoặc bên bán nhập lệnh giao dịch vào hệ thống giao dịch trái phiếu và bên đối ứng xác nhận lệnh giao dịch này.

4. Chuyển quyền sở hữu trái phiếu

Trái Phiếu đã được đăng ký và lưu ký tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam sẽ được Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chuyển quyền sở hữu trái phiếu thông qua hệ thống giao dịch Trái Phiếu. Tuy nhiên, Thông Tư 30 hướng dẫn bổ sung một số trường hợp đặc biệt mà Trái Phiếu chuyển quyền sở hữu trái phiếu không cần qua hệ thống này đối với các trường hợp chuyển quyền sở hữu trong một số trường hợp đặc biệt như: tặng cho, thừa kế; Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp, giải thể doanh nghiệp; thực hiện bản án, quyết định của tòa án, quyết định của trọng tài hoặc quyết định của cơ quan thi hành án…

5. Thanh toán giao dịch trái phiếu

Thông tư 30 đã đưa ra những quy định nhằm hướng dẫn cụ thể hơn việc thanh toán cho giao dịch trái phiếu. Theo đó, các đối tượng được thực hiện chuyển giao Trái Phiếu trên hệ thống tài khoản lưu ký tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam bao gồm: (i) Thành viên lưu ký thực hiện thanh toán đối với giao dịch Trái Phiếu của chính mình và cho khách hàng của thành viên lưu ký; và (ii) Tổ chức mở tài khoản trực tiếp thực hiện thanh toán đối với giao dịch Trái Phiếu của chính mình (sau đây gọi là “Tổ Chức Chuyển Giao Trái Phiếu Được Phép”). Tổ Chức Chuyển Giao Trái Phiếu Được Phép phải mở các tài khoản tiền gửi đứng tên chính mình tại ngân hàng thanh toán để thực hiện thanh toán giao dịch trái phiếu.

Việc thanh toán tiền giao dịch trái phiếu được thực hiện tại ngân hàng thanh toán trên cơ sở nghĩa vụ thanh toán do Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thông báo. Còn việc chuyển giao thanh toán trái phiếu sẽ được thực hiện trên hệ thống của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam theo nguyên tắc chuyển khoản Trái Phiếu giữa các tài khoản của nhà đầu tư tại Tổ Chức Chuyển Giao Trái Phiếu Được Phép đồng thời với thanh toán tiền tại ngân hàng thanh toán. Thành viên lưu ký nơi nhà đầu tư mở tài khoản có trách nhiệm phân bổ tiền và Trái Phiếu đến tài khoản của nhà đầu tư ngay sau khi Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam hoàn tất việc chuyển giao thanh toán Trái Phiếu và ngân hàng thanh toán hoàn tất việc thanh toán tiền giao dịch.

Bên cạnh đó, Thông Tư 30 còn đưa ra hướng dẫn xử lý một số trường hợp mất khả năng thanh toán tiền giao dịch trái phiếu như trường hợp Tổ Chức Chuyển Giao Trái Phiếu Được Phép tạm thời mất khả năng thanh toán thì ngân hàng thanh toán sẽ cho vay tiền thanh toán giao dịch trái phiếu dựa trên cơ sở thỏa thuận hỗ trợ thanh toán ký kết giữa các bên. Trường hợp thỏa thuận hỗ trợ thanh toán của hai bên có quy định sử dụng chứng khoán đã lưu ký tại Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam để làm tài sản đảm bảo cho khoản vay, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam sẽ thực hiện phong tỏa chứng khoán theo đề nghị của ngân hàng thanh toán. Ngoài ra, trong trường hợp đến thời hạn thanh toán theo quy định mà thành viên lưu ký, Tổ Chức Chuyển Giao Trái Phiếu Được Phép không có đủ tiền thanh toán thì Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện loại bỏ thanh toán giao dịch.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 02, 2024 – LUẬT GIÁ 2023

Phát hành Tháng 02/2024

Trịnh Hoàng Liên
Thành viên

 

Hà T. Thu Trang
Trợ lý Luật sư

 

Luật Giá số 16/2023/QH15 (“Lut Giá 2023”) đã được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2023 nhằm khắc phục một số hạn chế của Luật Giá 2012 trước những yêu cầu về thay đổi của nền kinh tế. Luật có hiệu lực vào ngày 1/7/2024 trừ nội dung quy định về chuyên môn của Hội đồng thẩm định giá lùi thời hiệu thi hành đến ngày 1/1/2026. Dưới đây là một số điểm mới đáng chú ý của Luật Giá 2023.

1. Nguyên tắc áp dụng Luật Giá và các Luật khác có liên quan 

Luật Giá 2023 quy định cụ thể hơn về việc áp dụng luật khi các luật khác có quy định về nội dung này. Cụ thể, trường hợp có quy định khác nhau về giá giữa Luật Giá và luật khác được ban hành trước ngày Luật Giá có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định của Luật Giá, trừ trường hợp việc định giá của Nhà nước đối với một số mặt hàng được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan bao gồm pháp luật về đất đai, nhà ở, điện lực, khám bệnh, chữa bệnh, giáo dục, giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, sở hữu trí tuệ.

2. Kê khai giá

Luật Giá 2023 mở rộng thêm nhiều trường hợp phải thực hiện kê khai giá ngoài trường hợp bắt buộc phải kê khai đối với các hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bình ổn giá như Luật giá 2012. Hàng hóa, dịch vụ thực hiện kê khai bao gồm hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bình ổn giá; hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định khung giá, giá tối đa, giá tối thiểu để các tổ chức định mức giá cụ thể bán cho người tiêu dùng; hàng hóa, dịch vụ do doanh nghiệp quyết định theo giá tham chiếu; và hàng hóa, dịch vụ thiết yếu khác do Chính phủ ban hành.

Chúng tôi thấy việc mở rộng các đối tượng phải kê khai giá có thể trở thành một dạng “giấy phép con” cho các tổ chức mua bán hàng hóa, dịch vụ. Danh sách các tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải thực hiện kê khai giá không rõ ràng. Việc kê khai giá sẽ được thực hiện ở hai cấp, cấp Bộ và cơ quan ngang Bộ và cấp địa phương (UBND Tỉnh) theo danh sách các cơ quan này ban hành. Cần chờ quy định chi tiết của Chính phủ để đánh giá liệu thủ tục kê khai có phức tạp, số lượng tổ chức kinh doanh có nhiều, có việc chồng chéo về danh sách phải kê khai giá giữa hai cấp thực hiện này không.

3. Điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá

Điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá được quy định chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo tính ổn định về nhân sự của doanh nghiệp thẩm định giá và hạn chế các sai phạm trong quá trình thực hiện. Quy định mới tăng yều cầu về số lượng thẩm định viên về giá tại doanh nghiệp từ ít nhất 3 lên ít nhất 5 thẩm định viên về giá.

Ngoài ra, đối với mỗi loại hình doanh nghiệp lại có các yêu cầu khác bổ sung. Cụ thể: đối với công ty hợp danh, các thành viên hợp danh công ty hợp danh phải là người có thẻ thẩm định viên về giá đăng ký hành nghề thẩm định giá tại doanh nghiệp. Đối với loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần bổ sung điều kiện tổng số vốn góp của các thành viên hoặc cổ đông là người có thẻ thẩm định viên về giá đăng ký hành nghề thẩm định giá tại doanh nghiệp phải chiếm tỷ lệ trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Đối với chi nhánh doanh nghiệp thẩm định giá, quy định mới yêu cầu tăng số lượng thẩm định viên tại chi nhánh doanh nghiệp thẩm định giá từ ít nhất 2 lên ít nhất 3 thẩm định viên về giá đủ các điều kiện đăng ký hành nghề thẩm định giá đăng ký hành nghề thẩm định giá tại chi nhánh.

4. Quy định đối với thẩm định viên

Luật Giá 2023 rút ngắn thời gian làm việc để được đăng ký hành nghề thẩm định giá đối với trường hợp người có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành giá hoặc thẩm định giá theo chương trình định hướng ứng dụng theo quy định của pháp luật. Cụ thể tổng thời gian thực tế làm việc tại các doanh nghiệp thẩm định giá, cơ quan quản lý nhà nước về giá và thẩm định giá của các đối tượng này chỉ cần đủ 24 tháng so với mức chung về tổng thời gian thực tế làm việc tại các doanh nghiệp thẩm định giá, cơ quan quản lý nhà nước về giá và thẩm định giá đối với những người trình độ đại học chung trở lên từ đủ 36 tháng.

5. Danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá

Luật Giá 2023 đã đưa ra khỏi danh mục các mặt hàng quy định tại Luật Giá 2012 gồm điện, muối ăn và đường ăn (bao gồm đường trắng và đường tinh luyện) đồng thời bổ sung mặt hàng phân DAP, thức ăn chăn nuôi và thức ăn thủy sản. Theo đó, danh mục hàng hóa, dịch vụ bình ổn giá theo Luật Giá 2023 sẽ gồm 9 hàng hóa, dịch vụ là: Xăng, dầu thành phẩm; Khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG); Sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi; Thóc tẻ, gạo tẻ; Phân đạm, phân DAP, phân NPK; Thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản; Vắc – xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm; Thuốc bảo vệ thực vật; Thuốc thuộc danh mục thuốc thiết yếu được sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Việc quy định ngay trong luật danh mục này đảm bảo tính công khai, minh bạch, tránh việc lạm dụng để mở rộng phạm vi các mặt hàng thuộc diện bình ổn giá, bảo đảm tính pháp lý chắc chắn, ổn định, giúp doanh nghiệp, người dân đang kinh doanh những mặt hàng thuộc diện bình ổn giá có kế hoạch kinh doanh phù hợp.

6. Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá

Luật giá 2023 đã bổ sung thêm một tiêu chí về hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá là: hàng hóa, dịch vụ thiết yếu có tính chất độc quyền trong mua, bán hoặc có thị trường cạnh tranh hạn chế và ảnh hưởng đến kinh tế – xã hội, đời sống người dân, hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, sự khác biệt trong quy định về các loại hàng hoá, dịch vụ định giá nhà nước giữa Luật Giá 2012 và các Luật chuyên ngành đã dẫn đến sự mâu thuẫn, chồng chéo gây hạn chế cho việc tuân thủ và kiểm soát trên thực tế. Trên cơ sở đó, ngoài tiêu chí về hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá, Luật Giá năm 2023 cũng đã cập nhật danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá theo hướng đồng bộ với các quy định của pháp luật chuyên ngành như bổ sung thêm các dịch vụ ra, vào bến xe; dịch vụ đấu giá tài sản, … vào danh mục.

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 01, 2024 – LUẬT ĐẤT ĐAI SỬA ĐỔI 2024 ẢNH HƯỞNG THẾ NÀO ĐẾN CHI PHÍ ĐẤT ĐẦU VÀO CỦA DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DỰ ÁN?

Số đặc biệt Tháng 1 / 2024

Nguyễn Đăng Việt

Luật sư Thành viên

Chúng tôi thực hiện so sánh nhanh một nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật đất đai 2024 liên quan đến xác định giá đất – nội dung mà các doanh nghiệp đầu tư dự án kinh doanh bất động sản có thể quan tâm xem liệu có sự tác động đáng kể đến chi phí đất dẫn tới làm thay đổi giá bán bất động sản hay không.

I – Nguyên tắc định giá đất

II- Các phương pháp định giá đất

Download pdf version

BẢN TIN PHÁP LÝ – THÁNG 06, 2023 – NGHỊ ĐỊNH SỐ 08/2023/NĐ-CP NGÀY 05 THÁNG 3 NĂM 2023 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG VÀ NGƯNG HIỆU LỰC THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU TẠI CÁC NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH VỀ CHÀO BÁN, GIAO DỊCH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP RIÊNG LẺ TẠI THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC VÀ CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP RA THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

Phát hành 06/2023

Nguyễn Thị Thu Trang
Luật sư Cố vấn

Phan Văn Huy
Luật sư Cộng sự Cấp cao 

Thời gian qua, một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc nhóm kinh doanh bất động sản gặp nhiều khó khăn trong thanh toán nghĩa vụ nợ gốc và lãi trái phiếu đến hạn. Để tạo điều kiện hỗ trợ cho doanh nghiệp cũng như đưa ra thêm lựa chọn cho người sở hữu trái phiếu, ngày 05/03/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung và ngưng hiệu lực thi hành một số điều tại các Nghị định quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (“Nghị định 08/2023”).

Nghị định 08/2023 được kỳ vọng sẽ mang lại hướng giải quyết tích cực cho các doanh nghiệp phát hành và người sở hữu trái phiếu trong việc thanh toán trái phiếu đến hạn. Nghị định 08/2023 có hiệu lực từ ngày ký ban hành và quy định những điểm mới đáng lưu ý sau đây:

 1. Cho phép đàm phán để thanh toán nợ gốc, lãi trái phiếu đến hạn bằng tài sản khác 

Trước đây, doanh nghiệp phát hành trái phiếu có trách nhiệm “thanh toán đy đ, đúng hn lãi, gc trái phiếu khi đến hn và thc hin các quyn kèm theo (nếu có) cho ngưi s hu trái phiếu theo điu kin, điu khon ca trái phiếu“, quy định tại Khoản 3 Điều 34 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (“Ngh đnh 153/2020”), mà không có quy định cho phép điều chỉnh thời hạn thanh toán này. Nghị định 08/2023 đã bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp phát hành có thể đàm phán với người sở hữu trái phiếu để thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn bằng tài sản khác. Cụ thể, đối với trái phiếu chào bán tại thị trường trong nước, trường hợp doanh nghiệp phát hành không thể thanh toán đầy đủ, đúng hạn nợ gốc, lãi trái phiếu bằng đồng Việt Nam theo phương án phát hành đã công bố cho nhà đầu tư, doanh nghiệp có thể đàm phán với người sở hữu trái phiếu để thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn bằng tài sản khác theo các nguyên tắc sau:

(i) Tuân thủ quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan. Đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì còn phải tuân thủ quy định của pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đó;

(ii) Phải được người sở hữu trái phiếu chấp thuận;

(iii) Doanh nghiệp phát hành phải công bố thông tin bất thường và chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình trạng pháp lý của tài sản sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu theo quy định của pháp luật.

Khung pháp lý mới này được kỳ vọng sẽ giúp các doanh nghiệp phát hành trái phiếu đang gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ gốc, lãi trái phiếu theo phương án phát hành đã công bố cho nhà đầu tư cùng với người sở hữu trái phiếu tìm phương án giải quyết thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn. Về phía người sở hữu trái phiếu, quy định mới mở ra thêm lựa chọn để người sở hữu trái phiếu nhận thanh toán bằng tài sản khác thay vì chờ đợi doanh nghiệp thanh toán theo phương án công bố ban đầu.

Tuy nhiên, cần lưu ý khung pháp lý mới chỉ dừng lại ở việc quy định doanh nghiệp chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình trạng pháp lý của tài sản được sử dụng để thanh toán chứ không quy định một cơ chế chặt chẽ để kiểm soát tính hợp pháp của tài sản và quy trình thanh toán sau đó. Nhiều ý kiến cho rằng việc thay đổi tài sản thanh toán có thể làm phát sinh vấn đề trong việc định giá tài sản, phân chia tài sản, đặc biệt trong trường hợp nhiều người sở hữu trái phiếu cùng nhận thanh toán bằng một bất động sản.

2. Kéo dài kỳ hạn của trái phiếu tối đa 02 năm so với phương án phát hành đã công bố

Đối với trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước và còn dư nợ đến ngày 16/9/2022 – ngày Nghị định số 65/2022/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 153/2020 (“Ngh đnh 65/2022”) có hiệu lực thi hành,  thay vì không cho phép doanh nghiệp được thay đổi kỳ hạn của trái phiếu đã phát hành như đã quy định tại điểm b khoản 3 Điều 3 Nghị định số 65/2022, Nghị định 08/2023 có quy định cho phép thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu nhưng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

(i) được cấp có thẩm quyền của doanh nghiệp phát hành thông qua

(ii) được số người sở hữu trái phiếu đại diện từ 65% tổng số trái phiếu cùng loại đang lưu hành trở lên chấp thuận;

(iii) trường hợp kéo dài kỳ hạn của trái phiếu thì thời gian tối đa không quá 02 năm so với kỳ hạn tại phương án phát hành trái phiếu đã công bố cho nhà đầu tư;

(iv) đối với người sở hữu trái phiếu không chấp thuận thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu thì doanh nghiệp phát hành có trách nhiệm đàm phán để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Trường hợp có người sở hữu trái phiếu không chấp thuận phương án đàm phán thì doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với người sở hữu trái phiếu theo phương án phát hành trái phiếu đã công bố cho nhà đầu tư (kể cả trường hợp việc thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu đã được người sở hữu trái phiếu đại diện từ 65% tổng số trái phiếu trở lên chấp thuận).

Theo đó, điểm mới đáng lưu ý là thời hạn kéo dài kỳ hạn của trái phiếu là tối đa 02 năm so với kỳ hạn tại phương án phát hành trái phiếu đã công bố cho nhà đầu tư. Khoảng thời gian này được kỳ vọng sẽ giúp cho doanh nghiệp phát hành sẽ có thêm thời gian để thực hiện nghĩa vụ với người sở hữu trái phiếu.

3. Ngưng hiệu lực thi hành một số quy định đến hết năm 2023

Nghị định 08/2023 quy định ngưng hiệu lực thi hành đối với các quy định sau đây tại Nghị định 65/2022 đến hết ngày 31/12/2023:

(i) Quy định về việc xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là cá nhân tại điểm d khoản 1 Điều 8 Nghị định 153/2020 được sửa đổi tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 65/2022;

(ii) Quy định về thời gian phân phối trái phiếu của từng đợt phát hành tại khoản 7, khoản 8 Điều 1 Nghị định số 65/2022;

(iii) Quy định về kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu tại điểm e khoản 2 Điều 12 Nghị định số 153/2020 được sửa đổi tại khoản 9 Điều 1 Nghị định số 65/2022.

Theo đó, việc ngưng hiệu lực của các quy định nêu trên được đánh giá là biện pháp ngắn hạn hỗ trợ doanh nghiệp phát hành trái phiếu giải quyết các khó khăn trước mắt về thanh khoản và thanh toán các trái phiếu đến hạn.

Kết lại, Nghị định 08/2023 bổ sung các cơ chế mới để doanh nghiệp phát hành đàm phán với người sở hữu trái phiếu để giải quyết tình hình khó khăn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong nước ở thời điểm hiện tại. Về nguyên tắc, để có thể thay đổi tài sản thanh toán và kéo dài kỳ hạn trái phiếu, doanh nghiệp phát hành phải có được chấp thuận của người sở hữu trái phiếu. Do đó, người sở hữu trái phiếu cần phải cân nhắc kỹ trước khi đưa ra các quyết định liên quan, trong bối cảnh nhiều vấn đề có thể phát sinh liên quan đến định giá tài sản, phân chia tài sản cùng chủ sở hữu hoặc liên quan đến việc doanh nghiệp phát hành cung cấp thông tin không rõ ràng hoặc không chính xác.

Download pdf version